Tâm Hướng Phật
Kinh Phật

Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương trọn bộ PDF

Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương hay Kinh Kim Quang Minh, Ánh Sáng Hoàng Kim. Dưới đây là nội dung kinh file PDF để quý vị tụng đọc.

Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương hay được viết tắt là Kinh Kim Quang Minh (Ánh Sáng Hoàng Kim) là một kinh điển Phật giáo của phái Bắc Tông. Kim Quang Minh Kinh là bộ kinh phổ biến và được mệnh danh là bản kinh Hộ Quốc ở các nước Phật giáo theo truyền thống Đại Thừa như Trung Hoa, Triều Tiên, Việt Nam và đặc biệt là Nhật Bản.

Ý Nghĩa Kinh Kim Quang Minh

Trong bộ Kim Quang Minh huyền nghĩa, đại sư Thiên Thai Trí Giả ghi:

“Kinh Kim quang minh sâu xa vô lượng, hư không còn chẳng cao rộng bằng, thì dùng trọng lượng của Tu-di và số lượng giọt nước biển lớn có thể sánh biết giới hạn sao? Như ánh sáng mặt trời chói rực, trẻ con không thể nhìn vào; đài cao trên thuyền lớn, người mẹ vừa sinh con đâu đủ sức đảm đương. Hành xứ của chư Phật thanh tịnh hơn cả hạnh tu của Bồ-tát, thì tâm khẩu của Nhị thừa đâu thể nào nghĩ suy, diễn đạt! Còn hàng phàm phu, nếu muốn nói thì sẽ làm tổn thương chân tính; muốn im lặng thì phạm sai lầm. Nói hay im lặng đều không thể. Vì muốn dùng lời để diễn đạt cũng không được, muốn dùng im lặng để tỏ bày cũng không được, cho nên trong kinh Đại Niết-bàn, Phạm chí nói: ‘Vì không thể nội quán cho nên chứng Bồ-đề, vì không thể ngoại quán cho nên chứng Bồ-đề, vì chẳng thể nội ngoại quán cho nên chứng Bồ-đề’. Kinh cho rằng đối với bồ-đề thì chẳng thể dùng tâm suy nghĩ, dùng lời luận bàn. Lại nói: ‘Sinh mà sinh chẳng thể nghĩ bàn, sinh mà bất sinh chẳng thể nghĩ bàn, bất sinh mà sinh chẳng thể nghĩ bàn, bất sinh mà bất sinh chẳng thể nghĩ bàn, nhưng vì có nhân duyên, nên cũng có thể nghĩ bàn’.

Nay kinh này lấy Kim (vàng) làm tên gọi, thì tên gọi đứng đầu trong các kinh; lấy pháp tính làm thể, thì sở nhập của Phật trang nghiêm; lấy công đức sâu mầu của Bồ-tát làm tông; lấy việc chiếu soi chư thiên khiến sinh tâm hoan hỉ làm dụng; đã gọi là Kinh vương, thì giáo gồm thâu các kinh khác. Có thể biết, kinh này lấy vật báu làm tên, lấy quả cùng tột làm thể, lấy công đức sâu xa làm tông, lấy đại làm dụng, lấy vương làm giáo, từ thể Bất nhị mà chia bốn phần. Kinh này được Phật Thế Tôn bảo vệ, chư Phật trong mười phương ba đời cũng thế; tất cả các Bồ-tát khắp nơi kính lễ, thọ thần thiện nữ tuôn lệ mà tán dương; chư thiên dùng uy trời che chở, địa kì dùng chất màu mỡ để tưới nhuần; lại thêm Đại Biện giúp cho tài biện, Công Đức ban cho tài bảo, khiến các cõi hết khô cằn, ba đường tiêu nóng bức.

Tóm lại, tất cả những việc xưa nay chưa từng xuất hiện ở thế gian, thì nay đã xuất hiện. Vì thế người giảng nói kinh này, Kim Long tôn chủ ba đời ca ngợi, Địa thần phát nguyện hộ trì. Thánh chúa đã như thế, huống gì thứ dân mà muốn bỏ đạo này sao? Thật muốn nương vào nghĩa này để luận thuật ý kinh, mong vài giọt sương rơi vào biển cả, đồng thành vị mặn; tất cả chim chóc trở về rừng sâu, đều biến một sắc màu”.

Lại nữa, Từ Giác Đại Sư luận về kinh này như sau:

“Linh tâm bặt đối đãi, dứt sạch muôn vật mà độc tồn; diệu hạnh khó nghĩ bàn, luôn tùy duyên mà hiện khắp. Đó chính là: chân như pháp tính chẳng dính mảy trần, trong sự tướng môn không bỏ một pháp. Cho nên, Như Lai xuất thế thuyết kinh Kim quang minh, dạy nương tâm thanh tịnh để lập hạnh giải thoát. Ngài bày ra kinh điển xuất trần, muốn vĩnh viễn quét sạch mê tình; chỉ cho kho tàng bảo vương, mong chóng thành tựu trọn vẹn đại dụng. Phàm định Bồ-tát Tín Tướng làm người khởi giáo, tức nêu Bồ-tát chẳng kẹt nơi hạnh Không; nơi Kiên Lao địa thần có bài tụng Tán không, thì hiển pháp thân chẳng thể cầu nơi hữu tướng. Tính tướng dung thông, hữu vô đồng lập, đó là yếu nghĩa của kinh này vậy. Đến như nói về bản nguyên pháp tính chư Phật, là để định nguồn thọ lượng của Như Lai; ánh sáng chiếu khắp tam thiên, tức phát dương môn Nhất thiết trí; trống vàng xuất âm, là hiển thị vô biên diệu dụng; đây chính là gốc khởi hạnh của Bồ-tát.

Sám trừ tội chướng vốn là pháp môn như mộng, ca ngợi Như Lai là nêu diệu quả tu hành. Ma-ha Tát-đỏa thí thân cho hổ đói, thật là khéo xả khéo tu; trưởng giả Lưu Thủy cứu đàn cá, thật có chung có thỉ, đây tức là hạnh nương chân tính của Bồ-tát vậy. Thí như mặt trăng treo trên hư không, bóng trăng chìm trong vô số dòng nước; vàng ròng tạo thành vật dụng, thể chỉ một mà tướng trạng có muôn nghìn. Thật là chủ bạn viên dung, nhất đa tự tại. Nếu có thể nơi một pháp mà thụ nhận tất cả pháp, thì mới tin bí tạng của Như Lai thật là xe báu cho ba cõi, là môn trang nghiêm tính hải, là nền tảng hướng đến Giác vương. Vì thế mười nghìn vị trời nghe kinh này, liền đốn chứng Bồ-đề; chúng sinh nào thể nhập đều đồng được một vị cam lộ. Thế thì, thấy nghe tùy hỉ, đọc tụng, thụ trì, nơi một niệm thấu suốt được pháp môn Vô thượng, mà cho là duyên nhỏ sao? Kính xin pháp lữ tư duy kĩ ý Phật”.

Trong bộ Kim quang minh kinh sớ, ngài Cát Tạng cũng đã nói:

“Pháp thân rỗng lặng mà thọ mạng có ngắn dài, bậc Chí nhân bặt nghĩ suy nhưng có cảm liền ứng. Bởi đấng Đại Giác lập phương tiện tùy cơ duyên thuyết pháp, nên có việc bốn Phật hiện nơi thất, luận yếu chỉ thường trụ, Bồ-tát cảm mộng lành chỉ bày pháp sám hối. Nhân chỉ có hai thiện mà tổng gom muôn hạnh, quả đạt đến bồ-đề mà thọ lượng sánh hư không. Vì thế hàng Bồ-tát Thập địa tu theo lí này, bốn vị thiên vương đồng ca ngợi và bảo vệ. Lại nữa, y kinh giảng thuyết chướng nạn tiêu trừ, nương pháp nguyện cầu phúc lạc tùy tâm. Cho nên kinh này lấy chính pháp trung đạo làm thể, ba điểm-bốn đức làm tông vậy.

Nếu phiên đầy đủ theo âm tiếng Phạn, thì tên bộ kinh này là Phật-đà bàn-già tu-bạt-na-bà-la-bà-tu tu-đa-la. Trong đó, Phật-đà, Trung quốc dịch là Giác, bàn-già là thuyết, tu-bạt na-bà-la-bà-tu là Kim quang minh, tu-đa-la gồm năm nghĩa, nhưng ở đây chọn lấy nghĩa Kinh. Kinh nghĩa là pháp, là thường, là do; vì thế nên gọi là kinh Giác thuyết kim quang minh, hay kinh Kim quang minh.

Kinh này xếp vào tạng Đại thừa Bồ-tát, thuộc về Đốn giáo. Nếu nói đến chỗ cùng tột, thì kinh này trình bày ba loại ba pháp: 1, ba thân quả Phật; 2, ba đức niết-bàn; 3, ba loại Phật tính. Trong đó thể của vàng (Kim) là chân thật dụ cho Pháp thân, dụng của ánh sáng (quang) là chiếu soi dụ cho Ứng thân, sự sáng (minh) làm lợi ích cùng khắp dụ cho Hóa thân.

Bốn đặc tính từ thể của vàng (Kim) dụ cho bốn đức của Pháp thân: 1, màu sắc không biến đổi tức là thường; 2, không nhiễm ô tức là tịnh; 3, tùy ý chuyển đổi, tạo các vật dụng một cách vô ngại tức là ngã; 4, làm cho người trở nên giàu có tức là lạc. Hai đặc tính của ánh sáng (quang) là năng chiếu và năng trừ dụ cho bát-nhã; hai đặc tính của sự sáng (minh) là không tối tăm và rộng xa dụ cho giải thoát, không còn các nỗi lo sợ.

Thể của vàng (Kim) vốn có dụ cho Chính nhân trước khi ngộ đạo; dụng ánh sáng (quang) mới có dụ cho Liễu nhân trong lúc chứng đạo; sáng (minh) thì không tối dụ cho cực quả sau khi chứng đạo.

Vì dùng ba đặc tính của vàng dụ cho ba loại ba pháp, nên gọi là Kim quang minh”.

Trên đây là ba đoạn Huyền nghĩa của ba Đại sư đại biểu cho ba tông: Thiên Thai, Thiền Tịnh, Tam Luận, nội dung bàn về chỗ cùng tột của kinh Kim quang minh. Kinh xin các hành giả để tâm xem đọc.

Mùa An cư năm Kỉ Sửu
Nguyên Chơn kính thuật!

Mời quý bạn đọc Kinh Kim Quang Minh –  Biên dịch Tỳ Kheo Thích Nguyên Chơn tại file PDF dưới đây.

Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương

Bài viết cùng chuyên mục

Kinh Nhật Tụng PDF – Nghi thức tụng hằng ngày tại gia

Định Tuệ

Sự tích Phật A Di Đà và bảy vị Bồ Tát trọn bộ PDF

Định Tuệ

Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật file PDF cho bạn đọc tụng

Định Tuệ

Kinh Pháp Diệt Tận PDF – Quảng Minh việt dịch

Định Tuệ

Kinh Địa Tạng phẩm thứ bảy: Lợi ích cả kẻ còn người mất

Định Tuệ

Kinh Vô Lượng Thọ phẩm thứ 13: Thọ chúng vô lượng

Định Tuệ

Kinh Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật PDF cho bạn đọc tụng

Định Tuệ

Kinh Vô Lượng Thọ phẩm thứ chín: Viên mãn thành tựu

Định Tuệ

Kinh Vô Lượng Thọ phẩm thứ mười: Giai nguyện tác Phật

Định Tuệ

Viết Bình Luận