Hấp hối có nghĩa là gần chết. Độ ở đây mang ý nghĩa chuyển hóa, giúp người vượt qua, giáo hóa cho người. Sau đây là nội dung Kinh độ người hấp hối.
Hấp hối có nghĩa là gần chết. Có nhiều từ đồng nghĩa cùng biểu đạt cho trạng thái này như đang lâm chung, thời gian cận tử, lúc sắp chết… Độ ở đây mang ý nghĩa chuyển hóa, giúp người vượt qua, giáo hóa cho người.
Có một bài kinh thuộc Trung bộ mang tựa đề Anāthapiṇḍikovāda suttaṃ được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch là kinh Giáo giới Cấp Cô Độc. Tương đương với bản kinh này trong Hán tạng, thuộc bộ Tăng-nhất A-hàm, cũng được Hòa thượng Thích Nhất Hạnh dịch là kinh Độ người hấp hối.
Thực ra, trong bộ Tăng-nhất A-hàm, bản kinh tương đương kinh Trung bộ này không có tên kinh, mà được các nhà biên tập Đại tạng kinh đánh dấu bản kinh theo số thứ tự. Trong kinh Trung A-hàm, cũng tồn tại một bản kinh tương đương kinh Trung bộ, khi dịch ra tiếng Việt, Hòa thượng Tuệ Sỹ giữ nguyên tựa đề là kinh Giáo hóa bệnh (教化病).
Ở đây, theo nguyên tác Pāli hay Hán tạng của bản kinh này, sự gần giống nhau của cụm từ giáo hóa và giáo giới của hai bản dịch nêu trên, có lẽ sát nghĩa với từ vāda, có căn ngữ vad, có nghĩa là nói, giảng thuyết.
Cần thấy rằng, trong kinh tạng Nikāya, có rất nhiều bài kinh liên quan đến việc giáo hóa người đang hấp hối, từ hàng cư sĩ cho đến bậc xuất gia, và cũng từ đây đã mở ra nhiều phương cách yểm trợ cho người hấp hối.
Theo quan điểm Phật giáo, nghiệp có thể thay đổi. Dù chỉ thay đổi nghiệp lực một chút nhỏ nhoi, nhưng theo chiều hướng tích cực, thì người đệ tử Phật vẫn nỗ lực thực hành. Trong kinh Pháp cú, Đức Phật đã khích lệ việc này. Việc độ người hấp hối tuy chỉ mang tính trợ duyên nhưng cũng nằm trong ý nghĩa đó.
Mời quý bạn đọc tụng Kinh độ người hấp hối – Thiền sư Thích Nhất Hạnh dịch tại file PDF dưới đây.