Tâm Hướng Phật
Kiến Thức

Thần chú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni tiếng Phạn và tiếng Việt

Người thọ trì Thần chú Phật Đảnh Tôn Thắng đà ra ni này, trừ tất cả tai nạn tật ách, hiện kiếp được túc mạng trí, sau đó dạo chơi tự tại các cõi trời và chư Phật quốc.

Phật Đỉnh Tôn Thắng phạn danh là uṣṇīṣa-vijaya dhāraṇī, cũng có tên là ‘’Trừ Cái Chướng Phật Đảnh’’ . Phật Đảnh Tôn Thắng là mật chú tối thượng thừa, đối với truyền thống người tu kim cang thừa, đều rất xem trọng oai lực màu nhiệm của thần chú này, được xưng danh là ‘’Tôn Pháp Thắng’’, cũng được xem ‘’Thanh Tịnh Chư Thú Tôn Thắng Đà La Ni’’.

Theo Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni Kinh ghi rằng: ‘’Như Lai Quán Đảnh Thanh Tịnh Chư Thú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni’’ này, có tám mươi tám câu chi trăm ngàn hằng sa chư Phật đã thuyết, đồng thủ hộ tán thán, và đồng ấn chứng. Vì đà ra ni này trừ sạch tội ngũ nghịch, thập ác của chúng sanh, cứu tất cả sự khổ nạn trong cõi Diêm Ma, bàng sanh, ngạ quỷ, địa ngục, và năng độ thoát tất cả chúng sanh nghiệp dày phước mỏng, nghèo nàn, hèn hạ, đau bịnh, tàn tật, yểu thọ, xấu xa, câm ngọng, đui điếc. Đà la ni này cũng cứu vớt các loại A Tu La, Dạ Xoa, La Sát, Phú Đơn Na, Ca Tra Phú Đơn Na , các quỷ thần, thậm chí độ thoát các loài thủy tộc, phi cầm, tẩu thú, rắn rết, ruồi muỗi, côn trùng,điều được giải thoát.

Theo Kinh Sử ghi chép vào đời Đường Cao Tông, niên hiệu Nghi Phượng, có vị cao tăng của nước Thiên Trúc, tên vị ấy là Phật Đà Ba Lợi (Buddhapàli) đi đến lễ lạy thánh tích Trung Quốc. Trong dịp lễ bái thánh tích ở Ngũ Đài Sơn, Ngài gặp một ông lão khuyên bảo Ông nên trở về Thiên Trúc (Ấn Độ) thỉnh Kinh Phật Đỉnh Tôn Thắng Đà La Ni đem truyền bố cho dân nhân Trung Hoa để tu tập vì ở nơi đây nghiệp chủng thâm dày. Đến niên hiệu Vĩnh Thuận, Ngài đã đi đến thủ đô Trường An, sau khi vua nghe kể lai sự màu nhiệm ở núi Ngũ Đài, được vua sắc phong là Nhật Chiếu Tam Tạng Pháp Sư và ban chỉ phiên dịch lưu truyền kinh này cho đến ngày nay. Thần chú này rất màu nhiệm, oai lực bất khả tư nghị, độ thoát khổ thú chúng sanh lục độ sanh tử luân hồi.

Đức Phật dạy: Phật Đảnh Tôn Thắng đà ra ni của ta đây có đủ oai thần lực, công đức rộng lớn như mặt trời sáng, như ma ni châu trong sáng, không bợn nhơ, ở nơi nào cũng phóng ánh quang minh phổ chiếu. Như 7 thứ báu thù thắng ở thế gian, tất cả hàng vua quan thần dân đều quý trọng ưa thích, mắt nhìn không chán. Môn đà ra ni này cũng như thế, nếu thọ trì đọc tụng, biên chép, hoặc cúng dường, kẻ ấy sẽ được vô lượng phước đức, tất cả hàng thiên long bát bộ đều kính trọng. Nếu có hàng vua chúa quan dân… vv… biên chép đà ra ni này để trong tháp 7 báu, nơi tòa sư tử, nơi tháp ở ngã tư đường, hoặc treo trên phướn cao, dùng các thứ hương hoa, anh lạc, y phục..vv… cúng dường đà la ni này, người cúng dường sẽ có công đức vô lượng vô biên, tăng phước trí vô lượng. Người ấy chính là con của Phật, là đại Bồ Tát, vì đã cứu vớt được vô lượng chúng sanh đi qua hoặc đi lại nơi có tôn thờ thần chú đó. Nếu có chúng sanh nào phạm tội tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác, phạm các trọng giới và tất cả tội nặng, sau khi chết phải đọa tam đồ thọ khổ. Nếu họ có phước duyên với tam bảo mà đi qua lại tháp hoặc phướn có để đà ra ni này, được dính hạt bụi hay cơn gió đến thân mình, hoặc được bóng tháp phướn che thân thì tất cả tội nặng đều tiêu sạch, sanh về cung trời để hưởng sự an vui thù thắng, sau đó sẽ sanh về mười phương Tịnh Độ. Nên ở các nước Phật giáo, như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam các tự viện và Chư Tăng Ni Phật tử đã dựng nhiều trụ tháp, và khắc vào tháp hoặc trụ đá thần chú này, nhằm mục đích đem lại sự lợi ích cho pháp giới chúng sanh.

Nếu có tỳ kheo, tỳ kheo ni, thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào thọ trì đọc tụng, công đức ấy năng trừ tội ngũ nghịch, thập ác trong vô lượng kiếp, sẽ chứng quả A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Nếu có người nào thọ trì đà la ni này, trừ tất cả tai nạn tật ách, hiện kiếp được túc mạng trí, sau đó dạo chơi tự tại các cõi trời và chư Phật quốc. Người ấy sẽ được chư Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí lấy tay xoa đầu thọ ký, thường ở đạo tràng, nghe hiểu thọ trì chánh pháp. Người ấy ba nghiệp (thân, ngữ, ý) thường thanh tịnh, tâm an vui, thân khổ xúc dứt trừ, được cảm giác nhẹ , tăng thọ mạng, không bị đột tử (bất đắt kỳ tử).

Nếu có người thọ trì đọc tụng, biên chép, cúng dường đà ra ni này, sẽ được vô lượng công đức, hưởng được sự vui thù thắng, chư thiên long bát bộ kính trọng, thiện thần hộ trì, chư Bồ Tát ái kính, chư Phật hộ niệm. Người thọ trì chú này đến địa ngục, ngạ quỷ, các tội nhân ấy điều được giải thoát

Nếu có người nào bị bịnh nặng, chịu nhiều đau khổ, được nghe đà ra ni này, sẽ mau lành bịnh, tội chướng tiêu diệt. Thậm chí các loài chúng sanh nghe được chú này đều xa lìa bệnh khổ, thoát thân bào thai, do hoa sen hóa sanh, tùy theo tâm nguyện mà thọ sanh, biết được duyên sanh kiếp trước.

Nếu có người nào tụng một biến chú này vào tai của bất cứ loài cầm thú súc sanh nào, thì kiếp sau không còn thọ thân cầm thú súc sanh, dù có nghiệp nặng bị đọa vào các chủng loại địa ngục,nhờ vậy cũng được thoát ly.

Nếu người nào chưa trì tụng chú này, mà tai nghe âm thanh của đà ra ni này, tức liền thành hạt giống Phật. Thần chú này khi đã lọt vào tai, liền huân tập thành quả chánh giác, tuy nghiệp nặng cũng không thể chướng ngại. Dù người ấy dù bị đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, bàng sanh cũng không mất hạt giống bồ đề, mà còn nương oai lực thần chú ấy mà khởi tiến tu cho đến khi thành Phật.

Nếu chúng sanh nào một lần nghe được Đà Ra Ni này, kiếp sau không có các tật bịnh và khổ não, ngũ nhãn lần lần thanh tịnh, được túc mạng trí, kiết sử tiêu trừ, sẽ chứng quả vô thượng chánh giác.

Nếu người nào mỗi ngày tụng chú này, được cúng dường của tất cả thế gian, khi xả báo thân sẽ sanh về thế giới Cực Lạc.

Nếu có người thọ trì chú này, từ kiếp này trở về sau, vĩnh lìa ác đạo, ở cõi người thường được thọ sanh trong nhà quý tộc, hoặc sanh lên cõi trời, cho đến được sanh về 10 phương chư Phật tịnh độ, kết bạn đồng hành với chư Bồ Tát, và sẽ chứng quả Vô Thượng Đẳng Giác.

Nếu có người nào mới chết, hoặc chết đã lâu, có người tụng đà ra ni này, nhất tâm hồi hướng cầu nguyện về 10 phương Phật tịnh độ. Nếu người chết thần thức đã bị đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, bàng sanh…vv… cũng được thoát khỏi ác đạo luân chuyển, được sanh lên cõi trời.

Thần chú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni tiếng Phạn:

namo bhagavate trailokya prativiśiṣṭaya buddhāya bhagavate.
tadyathā, om, viśodhaya viśodhaya, asama-sama
samantāvabhāsa-spharana gati gahana svabhāva viśuddhe,
abhiṣiňcatu mām. sugata vara vacana amṛta abhiṣekai mahā mantra-padai.
āhara āhara āyuh saṃ-dhāraṇi. śodhaya śodhaya gagana viśuddhe.
uṣṇīṣa vijaya viśuddhe sahasra-raśmi sam-codite.
sarva tathāgata avalokani ṣaṭ-pāramitā-paripūrani.
sarva tathāgata mati daśa-bhūmi prati-ṣṭhite.
sarva tathāgata hṛdaya adhiṣṭhānādhiṣṭhita mahā-mudre.
vajra kāya sam-hatana viśuddhe.
sarvāvaraṇa apāya-durgati pari viśuddhe, prati-nivartaya āyuh śuddhe.
samaya adhiṣṭhite. maṇi maṇi mahā maṇi.
tathatā bhūta-koṭi pariśuddhe. visphuṭa buddhi śuddhe.
jaya jaya, vijaya vijaya. smara smara, sarva buddha adhiṣṭhita śuddhe,
vajri vajragarbhe vajram bhavatu mama śarīram.
sarva sattvānām ca kāya pari viśuddhe. sarva gati pariśuddhe.
sarva tathāgata siñca me samāśvāsayantu.
sarva tathāgata samāśvāsa adhiṣṭhite.
budhya budhya, vibudhya vibudhya,
bodhaya bodhaya, vibodhaya vibodhaya samanta pariśuddhe.
sarva tathāgata hṛdaya adhiṣṭhānādhiṣṭhita mahā-mudre svāhā.

Phạn ngữ phát âm chú:

Na mô, ba ga va tê, trai lô ky da-pơ ra ti-vi sít ta da, bút đa da, ba ga va tê, ta đi da tha: ôm vi sút đa da, vi sút đa da, a sa ma, a sa ma, sa mam ta-a va ba sa, sơ pha ra na-ga ti-ga ha na, soa ba va-vi sút đê, a bi sin cha tu, mam, su ga ta, va ra-va cha na-a mi rị ta-a bi sê kai, ma ha-man tra-pa đai, a ha ra-a ha ra-a dút, sam đà ra ni, sô đà da, sô đà da, gà ga na, vi sút đi-u si ni sa, vi già da, vi sút đê, sa ha ra-rát mi, sam cô đi tê, sòa va-ta tha ga ta-a va lô ka ni, sát –pa ra mi ta, pa ri pu ra ni (sòa va-ta tha ga ta) ma ti-đa sa-bu mi, pơ ra ti sờ thi tê, sòa va-ta tha ga ta-hơ rị đà da-a đi sờ tha na-a đi sờ thi ta-ma ha-mút rê, va di rê-ka da-sam ha ta na, vi sút đê. Sòa va-a va ra na-a pa da-đút ga ti, pa ri-vi sút đê, pơ ra ti ni vát ta da, a dút, sút đê, sa ma da-a đi si thi tê. Ma ni, ma ni, ma ha-ma ni, ta tha ga ta, bu ta cô ti, pa ri sút đê, vít pu ta, bút đi sút đê, già da, già da, vi già da, vi già da, sờ ma ra, sờ ma ra, sòa va-bút đa-a đi si thi ta, sút đê, va di rê, va di rê-ga bê-va di ram, ba va tu, ma ma, sa ri ram, sòa va-sát toa nam, cha –ka da pa ri vi sút đê, sòa va, ga ti, pa ri sút đê. Soa va-ta tha ga ta, sin cha, mê, sa ma-ạt va sa dên tu, sòa va-ta tha ga ta, sa ma-ạt va sa-a đi si thi tê, bô đi da, bô đi da, vi bô đi da, vi bô đi da, sa mam ta-pa ri sút đê. Sòa va-ta tha ga ta-hơ rị đà da-a đi si tha na-a đi si thi ta –ma ha-mút rê, soa ha.

Thần chú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni tiếng Việt:

1. Nam mô bạc già phạt đế.
2. Tát bà tha đát lan lô chỉ dã.
3. Bát lạt để tì điệt sắt tra dã.
4. Bột đà dã. Bạc già phạt đế.
5. Đát điệt tha.
6. Úm, bột lâm bột lâm.
7. Thuật đà dã thuật đà dã.
8. Tỳ thâu đà dã. Tỳ thâu đà dã.
9. A táp ma táp ma.
10. Tam mạn đa. Phạ hoa sát.
11. Táp bát ra noa yết để ngược yết na.
12. Tỏa bà bà, tì thú đệ.
13. A tỳ xiển giả. Đổ mạn.
14. Tát bà đát da già đa.
15. Tô yết đa
16. Bạt ra bạt giả na.
17. A mật lật đa tỳ sư kế.
18. Ma ha mẫu đà ra, mạn đa ra bà na.
19. Úm. A hát ra a hát ra.
20. A dũ san đà ra ni.
21. Thu đà dã. Thu đà dã.
22. Già già na. Xoa phạ bà. Tỳ thú đệ.
23. Ô sắt nị sa. Tỳ thệ dã tỳ thú đệ.
24. Tố ha tát ra yết lại thấp nhị. San thù địa đế.
25. Tát ra bà đát tha yết đa.
26. A bà lô ky ni.
27. Tát bà đát đá già đa mạt đế.
28. Tát đà ra, ba la mật đa.
29. Ba rị, phú ra ni.
30. Na ta bồ mật bà la. Địa sắt sỉ đế.
31. Tát la bà đát đà yết đa da. Hất rị đà da.
32. Địa sắc sá na.
33. Đế sắt sỉ đê.
34. Úm, một điệt lệ, một điệt lệ. Ma ha một điệt lệ.
35. Bạt triết la ca dã.
36. Tăng hát đản na tỳ thú đệ.
37. Tát ra bà yết ma, phạt lạt noa tỳ thú đệ.
38. Bát lạt đổ rị ca đế, tì rị, tì thú đệ.
39. Bát lạt để na bà ra đái dã. A dũ thú đệ.
40. Tam ma da. Địa sắt sỉ na. Địa sắt xỉ đế.
41. Úm. Mạt nhĩ, mạt nhĩ, ma ha mạt nhĩ.
42. Á ma ni, á ma ni.
43. Tì ma ni, tì ma ni, mạ hạ tì ma ni..
44. Mạt địa mạt đế, ma ha mạt đế.
45. Đát đạt đa bột đa.
46. Cô thi tì lê thú đễ.
47. Tị tốt bố tra. Bột địa tỳ thú đệ.
48. Úm, hy hy.
49. Thệ dã thệ dã.
50. Tị thệ dạ tị thệ dã.
51. Tam mạt ra tam mạt ra.
52. Sa phạ ra, sa phạ ra.
53. Tát la bà bột đà.
54. Địa sắt sỉ na.
55. Địa sắc sỉ đa.
56. Thú đệ thú đệ.
57. Bạt triết lệ, bạt triết lệ. Ma ha bạt triết lệ.
58. A bạt triết lệ.
59. Bạt triết la yết tì.
60. Thệ da yết tì.
61. Tì giá gia yết tì.
62. Bạt triết ra thệ bạt la yết tì.
63. Bạt triết rô na già đế.
64. Bạt triết rô na bà đế.
65. Bạt triết la tam bà phệ.
66. Bạt triết rô bạt triết rị na.
67. Bạt triết lam, bạt bà đổ mạ mạ.
68. Tát rị lam. Tát la phạ. Tát đỏa bà năng.
69. Tát xá gia. Tì lê, tì thú đệ.
70. Sất dạ phạ bà đổ mế tát na.
71. Tát lạt bà yết đế tì lê thú đễ.
72. Tát lạt bà đát đà yết đa. Sất da mi.
73. Tam ma ta phạ. Tát diện đô.
74. Tát bà đát đá già đa.
75. Tam ma tát phạ sa địa sắt sỉ đế.
76. Úm! Sất địa da, sất địa dạ.
77. Bột đề dã, bột đề dã.
78. Tỳ bồ đề dã, tì bồ đề dạ.
79. Bồ đà dạ, bồ đà dạ.
80. Tì bồ đà dạ, tì bồ đà dã.
81. Mô ca dã, mô ca dã.
82. Tì mộ ca dã, tì mộ ca dạ.
83. Thuật đà dạ, thuật đà dã.
84. Tì thuật đà dã, tì thuật đà dã.
85. Tam mạn đa đát biệt lệ, mô ca dã.
86. Tam mạn đà da sa mế biệt rị thú đễ.
87. Tát la bà đát tha già đa tam ma da hất rị đà da.
88. Địa sắt sa na, địa sắt sỉ đế.
89. Úm, mẫu đề lê mẫu đề lê, ma ha mẫu đà ra,.
90. Mạn đa ra, bát na
91. Địa sắc sỉ đế.
92. Xóa ha.

Tâm Hướng Phật/TH!

Bài viết cùng chuyên mục

Phương pháp niệm Phật không xen tạp của Ấn Quang Đại Sư

Định Tuệ

Người tường tận đạo lý, thấu hiểu đúng sai là bậc Thánh nhân

Định Tuệ

Ý nghĩa sáu chữ hồng danh Nam Mô A Di Đà Phật là gì?

Định Tuệ

Từ ngũ uẩn đến giác chơn

Định Tuệ

Niệm Phật một câu phước sanh vô lượng, lạy Phật một lạy tội diệt hà sa

Định Tuệ

Tích đức lũy công, tùy duyên giúp người

Định Tuệ

Người khác mắng bạn, đánh bạn thì bạn phải làm thế nào?

Định Tuệ

Hộ niệm và khai thị cho người khi lâm chung là rất quan trọng

Định Tuệ

Chướng ngại nghiêm trọng nhất của hết thảy phàm phu là gì?

Định Tuệ

Viết Bình Luận