Tâm Hướng Phật
Kiến Thức

Tứ chánh cần là gì? Ý nghĩa của Tứ chánh cần

Tứ chánh cần là bốn pháp siêng năng tinh tấn hợp với chánh đạo. Pháp này còn có tên gọi khác là Tứ chánh đoạn, Tứ Ý Đoạn, Tứ Đoạn…

1. Tứ chánh cần là gì?

Trong cuộc sống, có đôi lúc chúng ta bắt gặp những hình ảnh thôi thúc bản thân mình cố gắng hơn trên con đường của mình đã chọn. Đối với người Phật tử nói chung và người xuất gia nói riêng thì ai cũng muốn thay đổi.

Đối với người Phật tử thì cố gắng làm sao an ổn nơi tâm hồn, gia đình hạnh phúc là điều mà mọi người hằng mong đợi. Để cuộc sống thoải mái bớt đi những muộn phiền những sự tranh đấu nơi chốn thương trường đạo Phật có mặt trên thế gian này nhầm giúp con người chuyển hóa từ cái ác đi về cái thiện, từ tối ra sáng, từ con nhộng yếu đuối trở thành con bướm xinh đẹp mạnh mẽ bay lượn trong ánh nắng ban mai.

Chỉ có lời dạy của Đức Phật là liều thuốc quý là phương pháp giúp chúng ta chuyển mê khai ngộ hướng con người đến đại lộ thênh thang, là bước đệm vững chãi cho những ai muốn bước lên thềm thang giác ngộ.

Tứ chánh cần dường như là thuật ngữ quen thuộc đối với người Phật tử chúng ta. Pháp này nằm ở phần Đạo Đế trong Tứ đế. Pháp này còn có tên gọi khác là Tứ Chánh Đoạn, Tứ Ý Đoạn, Tứ Đoạn… nhưng ta vẫn quen gọi là Tứ Chánh Cần. Tứ Chánh Cần là bốn pháp siêng năng tinh tấn hợp với chánh đạo. Bốn phép tinh tấn ấy là:

  1. Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh.
  2. Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sanh.
  3. Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sinh.
  4. Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sinh.

Quan niệm về điều dữ và điều lành trong Đạo Phật

Trước khi làm điều lành tránh điều dữ, chúng ta phải biết rõ thế nào là lành, thế nào là dữ. Những điều dữ là những điều gì có thể làm tổn hại cho mình và người trong hiện tại cũng như trong tương lai. Chúng bao giờ cũng nghịch với từ bi, bình đẳng, trí tuệ và chân lý.

Trái lại, những điều lành là những điều có thể lợi ích cho mình và người, trong hiện tại cũng như tương lai. Chúng bao giờ cũng hợp với từ bi, bình đẳng, trí tuệ và chân lý.

Với hai định nghĩa này, không phải đợi đến khi phát lộ ra bằng hành động, mới gọi là lành hay dữ. Ngay trong ý nghĩ, và quan trọng nhất là ý nghĩ, cũng đã phân biệt được lành hay dữ rồi. Theo đạo Phật, ba nơi phát sanh của lành hay dữ là: thân, khẩu, ý. Như thế, một cử chỉ, một lời nói hay một ý nghĩ, đều có thể là lành hay dữ. Do đó, đức Phật dạy chúng ta phải ngăn ngừa những điều dữ, hay thực hiện những điều lành, ngay khi chúng còn ở trong ý thức.

2. Ý nghĩa của Tứ chánh cần

a. Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh

Tâm mình chưa mộng tưởng điều ác thì mình phải ráng giữ gìn, đừng cho nó phát khởi lên, cũng như sợi dây buộc mũi con trâu, kìm nó, không cho ăn lúa. Sau đây là một ít thí dụ cụ thể có thể xảy ra hằng ngày trong đời chúng ta:

Khi chúng ta muốn tổ chức một cuộc đi săn bắn, để lấy thịt rừng cụng ly đánh chén với bè bạn, nhưng chúng ta lại nghĩ: “ta đã là đệ tử Phật, đã thọ tam quy, trì Ngũ Giới rồi, không lẽ dám quên lời hứa nguyện, sát hại chúng sinh và uống rượu!” Thế là chúng ta không thi hành cuộc săn bắn nữa.

Khi phát khởi tâm gian lận, muốn lập mưu kế lấy của người, chúng ta liền xét lại rằng: “Của mình mất mình biết buồn rầu, thì của người mất người đâu có vui! Vả lại, mình đã nguyện trọn đời không tham một vật nhỏ của ai, lẽ nào mình dám quên lời thệ nguyện?” Sau khi nghĩ thế rồi, chúng ta không thi hành mưu kế đen tối trên nữa.

Khi móng tâm hoa nguyệt, chúng ta lại nghĩ rằng: “Mình đã nguyện trọn đời không tà dâm, thì phải trì chí giừ gìn tiết hạnh”. Và do ý nghĩa ấy, chúng ta ngăn chặn được lòng hoa nguyệt.

Khi muốn nói dối để cho được việc riêng của mình, chúng ta liền nghĩ rằng: “Mình đã nguyện trọn đời nói lời ngay thật, thì phải cố gắng giừ cho trọn lời thệ nguyện”. Như thế, chúng ta khỏi phạm tội vọng ngữ.

Nói tóm lại, mỗi khi tâm chúng ta móng lên một ý nghĩ sái quất, muốn thực hiện một đièu ác gì, chúng ta phải tìm những lý do chánh đáng, tưởng nghĩa đến hậu quả tai hại của nó, để dập tắt ngay những ý nghĩ bất chính, và ngăn ngừa không để cho nó phát sinh trong hành động.

Người tu hành sợ các giặc phiền não, si mê len lỏi vào tâm mình cướp mất của báu công đức, nên luôn luôn cần thận giữ gìn, như người nhà giàu giữ của: ngăn tường đóng ngõ, bỏ tủ, khóa chặt không để cho kẻ gian vào nhà trộm mất.

Sự ngăn chặn, giữ gìn không cho điều ác phát khởi này, không phải hạn cuộc trong một thời gian nhất định nào, mà trái lại, phải tiếp tục luôn luôn trong từng sát na, từng giây phút, từng ngày tháng, từ năm này sang năm khác, cho đến chừng nào tâm mình được thuần thục an nhiên, không nghĩ đến điều ác nữa mới thôi. Công cuộc ngăn chận này đòi hỏi một sự siêng năng, Tinh tấn dẻo dai, bền bỉ mới có hy vọng thành tựu được như ý muốn.

b. Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sanh

Trong đời sống của chúng ta, nhất là khi chưa hiểu biết Phật phát và không tu hành, chúng ta đã phạm rất nhiều tội ác. Những tội ác này làm cho tâm của ta càng ngày càng tối tăm, lu mờ, như một tấm gương bỏ lâu ngày, không ai chùi rửa, không thể soi được nữa. Nay chúng ta đã nhận thấy cái nguy hại của những điều ác, thì chúng ta phải quyết tâm dứt trừ. Điều ác không ở đâu xa, chúng phát sinh trong thân, khẩu, ý của mỗi chúng ta. Vậy, trừ tội ác tức là ngăn chặn không cho thân, khẩu, ý chúng ta tiếp tục tạo nghiệp dữ nữa. Nhưng cái đà tội lỗi, như cái đà một chiếc xe xuống dốc, càng xuống càng mau, càng mãnh liệt, cho nên muốn diệt trừ tội lỗi, chúng ta phải vận dụng nhiều nghị lực, nhiều cố gắng, phải luôn luôn siêng năng, tinh tấn để ngăn chặn cái đà tội lỗi, Phật tử chúng ta phải luôn luôn nhớ nghĩ như vầy:

  1. Sát sanh là điều ác đã gây tội lỗi cho mình phải mắc nợ máu thịt và mạng sống, lại làm hại cho người lẫn vật.
  2. Trộm cướp làm khổ cho người bị nghèo đói, rách rưới, buồn rầu, đau khổ không thể kể xiết.
  3. Tà dâm là điều không hợp lễ tiết, thường gây sự rối ren trong gia đình và nhất là mang tiếng xấu hổ, làm mất phẩm giá con người.
  4. Nói dối mất lòng tin cậy.
  5. Nói thêu dệt làm chia lìa ân nghĩa.
  6. Nói lưỡi hai chiều làm tăng trưởng oán thù.
  7. Nói lời hung ác, trước dơ miệng mình, sau chiêu lấy họa.
  8. Ham muốn quá sức (tham) thấy mình thiếu mãi, càng khổ thân nhọc trí.
  9. Giận hờn tức tối, lửa sân nổi lên, làm hư công hỏng việc và bao nhiêu rừng công đức đều tiêu tan.
  10. Si mê không rõ chánh tà, mờ ám chân lý gây đủ các tội.

Xét như vậy rồi, nếu tội ác đã trót lỡ sanh, thì bất cứ tội nào chằng hạn, chúng ta phải đoạn trừ tận gốc rễ, đừng cho nó đâm chồi nảy nhánh nữa. Trong lúc đó, chúng ta lại huân tập các hạt giống lành thay thế vào tạng thức, thì lần hồi, chúng ta sẽ trở thành người thuần thiện.

c. Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sinh

Như chúng ta đã nói ở phần trên một khi chúng ta đã có định hướng thì phải thực hiện được, nhưng đòi hỏi người ấy phải có nghị lực bản thân phải vượt qua mọi cám dỗ của tâm, và sự mệt mỏi của thân.

Giống như chúng ta cầm cung tên lên thì chúng ta phải có hướng và biết rõ hướng mũi tên nó sẽ đi đến đâu. Việc làm để phát sinh các điều thiện cũng vậy, chúng ta phải biết rằng việc làm của chúng ta có gây hại cho bất kỳ ai hay không? Nếu có gây hại thì sẽ như thế nào? Chỉ cần bao nhiều suy nghĩ đó thôi cũng đủ cho chúng ta có câu trả lời là có nên làm hay không.

Nếu một ly nước đã không còn đục hay bợ nhơ, ô nhiễm gì nữa thì nước sẽ uống và còn phục vụ chúng ta trong mọi sinh hoạt hằng ngày.

Cũng vậy nếu mỗi người chúng ta phát khởi một điều tốt thì sẽ như thế nào? Ví dụ kêu gọi cứu trợ đồng bào lũ lụt, giúp đỡ những mãnh đời bất hạnh… Nếu lúc trước thân khẩu ý của chúng ta đã gây biết bao nhiêu tội lỗi rồi thì cũng đừng có ngại chuyện quá khứ để trì hoãn việc ý niệm thiện đang phát khởi trong tâm và chuyển nó thành hành động. Đó cũng là một trong rất nhiều lý do để chúng ta không thể nào hành thiện được.

Cho nên nếu những suy nghĩ tiêu cực ấy xuất hiện trong đầu chúng ta phải loại bỏ ngay lập tức, vì nó chỉ là suy nghĩ để đánh lừa ngăn cản chúng ta thực hiện những hành động tốt. Cố gắng vượt qua những suy nghĩ đó là chúng ta đã đặt một bước chân vững chải trên con đường thực hiện ước mơ thay đổi số phận và con người của chính mình. Cho nên mọi hành động thiện hay ác đều xuất phát từ suy nghĩ, vì lý do đó mà câu Kinh Pháp Cú thứ 2 là:

Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo
Nếu với ý thanh tịnh
Nói lên hay hành động
An lạc bước theo sau
Như bóng, không rời hình.

d. Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sinh

Cũng như một ly nước đã thành nước sạch thì có thể làm rất là nhiều việc như nấu ăn, chế biến thành những loại thức uống, …Cũng vậy một khi chúng ta đã hình thành nếp suy nghĩ là những hành động này có thể mang lại hạnh phúc cho ta và tha nhân, thấy chúng ta làm được việc tốt ai cũng thích và cũng muốn làm thêm nữa và nhiều hơn nữa. Đây cũng giống như là vụ làm ăn lớn nhất mà chúng ta cần đầu tư vào, tuy hao tốn sức lực và thời gian nhưng lợi nhuận chúng ta thu vào ngoài sức tưởng tượng. Tam nghiệp là thành phần chính cộng thêm chất xúc tác là Tam Độc nữa thì kết quả phản ứng chúng ta thu được là phiền não, đau khổ, đọa lạc. Còn ngược lại nếu trình nhân quả chúng ta có công thức chung là Tam nghiệp kết hợp với Thiện ý thì kết quả chúng ta thu được sẽ là hạnh phúc an lạc, không những cho mình và cho nhiều người.

Lời Phật dạy giúp chúng sinh chuyển mê khai ngộ và nhận thức rõ hơn đâu là đúng đâu là sai. Chúng ta phải có một cách nhìn nhận tích cực trước và sau khi chúng ta học Phật chúng ta đã gặt hái được những gì? Xem những phương trình mà chúng ta tự đặt ra nó có đem đến kết quả tốt hay không? Nếu có niềm vui thì chúng ta đã đi đúng hướng, ngược lại nếu kết quả không như chúng ta mong đợi thì xem chất xúc tác là gì?

Để bước trên đại lộ thênh thang thì chúng ta phải trải qua biết bao nhiêu là con đường cho nên một khi đã tìm được hướng đi thì hãy bước những bước chân thật tự tin vì con đường là do mình chọn và đi hay không là quyền của mình. Vì lời Phật dạy về Ý nghĩa của Tứ Chánh Cần chính là la bàn chuẩn xác nhất trên lộ trình tu học.

Tâm Hướng Phật/TH!

Bài viết cùng chuyên mục

15 điều khẩu truyền trân quý về chú Lăng Nghiêm – HT Tuyên Hóa

Định Tuệ

Công phu niệm Phật chẳng đắc lực là vì sao?

Định Tuệ

Ngũ nhãn là gì? Đại lược về Ngũ nhãn

Định Tuệ

Buông bỏ sẽ được đại tự tại, được chân giải thoát

Định Tuệ

Lạy Phật là vận động tốt nhất, hơn cả khí công và thái cực quyền

Định Tuệ

Phổ Hiền Bồ Tát dạy tu niệm Phật tam muội

Định Tuệ

Những hạng người nào có đủ phước báu nhất để niệm Phật?

Định Tuệ

Nội ma và ngoại ma chướng ngại người tu

Định Tuệ

Thần Chú là gì? Công đức, lợi ích của người đọc tụng thần chú

Định Tuệ

Viết Bình Luận