HomeKiến Thức16 điềm lành vi diệu lúc Đản sinh của Đức Phật

16 điềm lành vi diệu lúc Đản sinh của Đức Phật

Lúc Đức Phật ở trong thai mới sanh còn có mười sáu tướng điềm lành kỳ lạ hiện ra. Mười sáu tướng kỳ lạ tốt đẹp đó gồm những gì?

1. Mười sáu điềm lành vi diệu lúc Đản sinh của Đức Phật

“Trên đời nhơn hữu tứ nan
Sinh làm người khó, sống càng khó hơn
Khó nghe diệu pháp chánh chơn
Khó gặp Phật độ, thoát hôn mê đời!”

Chúng ta không có phước duyên lớn được gặp Phật, nhưng cũng may mắn được sinh ra làm người, được học và thực hành Phật pháp truyền dạy từ Đức Từ phụ Bổn sư Thích Ca và chư Tổ sư truyền nối qua nhiều thế hệ, qua các quốc độ và nền văn hóa khác nhau. Đó thực sự là điều an ủi cho tất cả chúng ta.

Đức Phật thị hiện ở đời là một đại sự nhân duyên, hy hữu, khó gặp. Kinh văn ghi lại rằng: “Sự xuất hiện của một người, này các Tỷ-kheo, khó gặp được ở đời. Của người nào? Của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỷ-kheo, khó gặp ở đời.”

“Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác. Chính một người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.”

Con Người với những phẩm chất đặc biệt và siêu việt như vậy, nên các sự kiện, môi trường liên hệ và chính ngay thân tướng của Ngài cũng thể hiện nhiều điềm lành kỳ lạ, tốt đẹp khác thường.

Những điềm lành trước khi Bồ-tát từ Đâu-suất thiên phát đại nguyện giáng sinh vào thai mẹ là Hoàng hậu Maya, ở trong thai và khi Đản sanh đã được kinh điển ghi với rất nhiều điềm lành hiện ra giữa thế gian, đại địa chấn động…

Nói thân tướng của Đức Phật, sự viên mãn, trang nghiêm tối thượng được thể hiện qua những mô tả 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp mà nhiều bài viết đã dẫn lại theo kinh điển. Ngoài những tướng tốt và vẻ đẹp đó, lúc Bồ-tát ở trong thai mới sanh còn có mười sáu tướng điềm lành kỳ lạ hiện ra. Mười sáu tướng kỳ lạ tốt đẹp đó gồm những gì?

Kinh Ưu bà di tịnh hạnh pháp môn ghi lại gồm:

1. Xả thân ở cõi trời Ðâu-suất ở trong thai nhớ biết rất rõ ràng.

2. Sau khi Bồ-tát xả thân ở cõi trời vào thai mẹ tự nhiên ánh sáng chiếu khắp thế gian. Chỗ tối tăm ở giữa thế giới, ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, sao, không thể chiếu tới thì đều có ánh sáng lớn. Chúng sanh trong đó đều nhìn thấy lẫn nhau, và họ nói rằng: “Trong đây vì sao bỗng nhiên có chúng sanh. Tất cả ánh sáng của tất cả thế gian Phạm, Ma, Sa-môn, Bà-la-môn đều không thể sánh kịp. Ba ngàn đại thiên thế giới đều chấn động sáu cách, các núi Tu-di đều chấn động không ngừng.

3. Bồ-tát ở trong thai có bốn thiên tử giữ đúng oai nghi ở ngay bốn phương hộ vệ Bồ-tát và mẹ của Bồ-tát, không để các người, phi nhơn ở thế gian làm não hại.

4. Bồ-tát ở trong thai tự nhiên làm cho người mẹ giữ giới, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ và không uống rượu.

5. Bồ-tát ở trong thai mẹ, người mẹ thanh tịnh không có tâm dục. Người ngoài thấy bà cũng không sanh tâm nhiễm.

6. Bồ-tát ở trong thai thường khiến người mẹ được rất nhiều lợi dưỡng về sắc, hương, vị, xúc tự nhiên đem đến.

7. Bồ-tát ở trong thai, người mẹ luôn an vui, không có các hoạn nạn về tật bệnh, đói khát, lạnh nóng, mệt mỏi, Bồ-tát cũng vậy. Người mẹ luôn thấy Bồ-tát ở trong thai, giống như ngọc ma-ni Tỳ-lưu-ly quý báu đều suốt trong ngoài sáng rực nhìn thấy rõ ràng, dùng chỉ năm màu để xâu. Người mắt sáng cầm trong tay thì thấy tám cạnh của viên châu và chỉ năm màu xanh, vàng, đỏ, trắng rất rõ ràng. Người mẹ thấy tất cả bộ phận của Bồ-tát rõ ràng không bị ngăn che.

8. Sau khi Bồ-tát sanh được bảy ngày, thì người mẹ qua đời sanh lên cõi trời Ðâu-suất, hưởng khoái lạc của trời.

9. Người phàm phu thọ thai là chín tháng hoặc đến mười tháng mới sanh, Bồ-tát thành tựu không như vậy, mà phải đủ mười tháng sau đó mới sanh.

10. Ở thế gian khi phụ nữ sắp sanh thì thân thể đau đớn, ngồi nằm không yên, sau đó mới sanh. Còn khi Bồ-tát sanh ra người mẹ an lạc, không có các bệnh đau, mà còn hoan hỷ vui tươi đứng giơ tay lên để sanh.

11. Khi Bồ-tát sanh ra khỏi thai được chư thiên đón lấy, sau đó được người bồng ẵm.

12. Sau khi được người đời bồng rồi bốn thiên tử đón bồng cung kính đặt trước người mẹ và tâm họ rất vui mừng cùng nói: “Lành thay, thưa phu nhân! Người đã sanh một thái tử dõng mãnh đại oai đức”.

13. Khi Bồ-tát mới sanh ra, không có nước máu và thai nhau với các vật không sạch sẽ. Thân của Bồ-tát thanh tịnh, như châu ma-ni được bọc trong tấm nhung già-tư, nhưng không ố lẫn nhau. Vì sao? Vì hai bên đều sạch sẽ, Bồ-tát mới sanh cũng vậy, thanh tịnh không nhiễm giống như châu ma-ni. Còn người mẹ đẹp đẽ giống như tấm nhung kia.

14. Khi Bồ-tát sanh ra, ở trong hư không tự nhiên có hai dòng nước chảy xuống, một là lạnh, hai là ấm để tắm thân Bồ-tát.

15. Sau khi sanh ra đi về hướng Bắc bảy bước. Bấy giờ, trên hư không tự nhiên có lọng che Bồ-tát. Sau khi đi bảy bước rồi Bồ-tát nhìn khắp mười phương rống tiếng sư tử xướng như vầy: “Trong tất cả thế gian chỉ có Ta là tối thượng, Ta là tối tôn trong trời người, chấm dứt đời này Ta không trở lại nữa”.

16. Khi Bồ-tát sanh ra, tất cả chúng sanh cho đến loài côn trùng trong ba ngàn đại thiên thế giới đều rất vui vẻ.

Con người bình thường của chúng ta chiêu cảm đi vào bào thai, được sinh ra là do nghiệp, thông thường thì chúng ta không chủ động được trong việc tái sanh. Chúng sanh trôi lăn trong luân hồi lục đạo cũng do nghiệp. Nghiệp quá khứ quyết định thân hiện tại của chúng ta. Những gì chúng ta tạo tác hôm nay sẽ quyết định thân sau của mình. Nói cách khác, sự đầu thai và sanh ra của chúng sanh là hoàn toàn bị động, không thể tự quyết định được điều gì.

Trái lại, Đức Thế Tôn tiền thân là Bồ-tát ở cõi Đâu-suất thiên từ giã cõi trời giáng sanh vào thai mẹ do đại nguyện cứu độ chúng sanh, vì an lạc, hạnh phúc cho chư thiên và loài người, Ngài hoàn toàn chủ động trong việc chọn nơi thọ thai, cách đản sanh…

Tái sanh do nghiệp thì bị nghiệp lực thúc đẩy, nên hệ quả theo nó cũng lắm điều xấu tốt lẫn lộn. Người mẹ mang thai cũng vậy, do chiêu cảm nghiệp trong quá khứ với sự lẫn lộn xấu tốt, nên cũng không hề chắc chắn đứa con của mình sẽ như thế nào.

Đức Phật thì không như thế. Thị hiện vào đời với đại nguyện đem lại an lạc, hạnh phúc cho số đông, Ngài đã chủ động chọn nơi thọ thai. Và khi đã vào thai mẹ, cũng với năng lượng đại từ bi, Ngài hoàn toàn không làm cho người mẹ đang mang thai – Hoàng hậu Maya có những biểu hiện bất như ý như những người mẹ mang thai khác, mà khiến người mẹ luôn có cảm giác dễ chịu, giữ giới hạnh một cách tự nhiên, được chư thiên bảo hộ thường trực, không bị não hại, được sức khỏe, an vui… từ lúc mang thai cho đến ngày hạ sanh.

Những điềm lành kỳ lạ tốt đẹp ấy chính là biểu hiện của năng lượng đại nguyện, đại từ bi, có khả năng không chỉ làm chủ hoàn cảnh trong mọi tình huống, mà hơn thế nữa, đem lại sự tốt đẹp cho mọi người, cho môi trường nơi mà mình sẽ đến. Đó là con đường của Bồ-tát, đi vào đời với mục đích duy nhất là đem lại sự an lạc, hạnh phúc cho chúng sanh, cho số đông giữa nhân gian.

Đọc thêm: Đức Phật đản sinh vào ngày nào? Ý nghĩa của ngày lễ Phật đản

2. Đức Phật đản sinh – Suối nguồn từ bi và bình đẳng

Khởi đi từ sự đản sinh của Đức Phật, một cuộc cách mạng tư tưởng cũng ra đời là một vị thái tử, nhưng không bị những xa hoa vật chất nơi cung vàng điện ngọc cuốn, thái tử Tất Đạt Đa sớm tỉnh ngộ trước cảnh sinh, lão, bệnh, tử, triền miên của kiếp người. Vào năm hai mươi chín tuổi, một đêm kia, thái tử cùng với người đánh xe tên là Xa Nặc lìa bỏ kinh thành, quyết tâm lên đường tìm Chân Lý.

Sáng hôm sau, thấy đã đi được một quãng đường khá xa, Ngài xuống xe, thay đổi y phục thái tử rồi trao cho Xa Nặc đem về, chỉ khoác lên mình một tấm vải vàng, ôm một bình bát, quyết quay lưng lại đời sống xa hoa, dư thừa vật chất, với người hầu kẻ hạ vây quanh, thái tử từ biệt Xa Nặc, dấn bước lên con đường gian nan phía trước.

Trải qua sáu năm trời sống trong cảnh thiếu thốn, kham khổ, hành trì nhiều phương pháp tu với nhiều bậc thầy, nhưng Ngài đều không thỏa mãn, cứ đi hoài, tìm mãi. Cuối cùng, Ngài nhận ra rằng tất cả các bậc thầy đó đều chưa thoát ra khỏi được vòng vô minh. Từ nhận định đó, Ngài không còn trông cậy vào một bậc thày từ bên ngoài, ngưng tìm kiếm, mà một mình một bóng, tự quay vào soi rọi nội tâm.

Cuộc chiến đấu để tự thắng bản thân của Ngài vô cùng cam go. Với niềm tin tưởng rằng nếu không sống cuộc đời khắc khổ thì sẽ không thể giải thoát, Ngài tự khép mình vào kỷ luật, sống khổ hạnh, trong cảnh cực kỳ gian nan, thiếu thốn, chỉ khoác trên mình một mảnh áo, chỉ ăn một chút hạt khô và rau cỏ, đến nỗi cơ thể Ngài vốn là một thái tử đẹp đẽ oai phong, nay chỉ còn lại lớp da bọc bộ xương. Thế nhưng sự hành hạ xác thân đó cũng không khiến cho Ngài thấy được Chân Lý. Cuối cùng, sau khi đã suýt gục ngã vì quá khổ cực, Ngài mới thấy rằng lối sống xa hoa phủ phê thì kéo con người xuống thấp vì đắm say vật chất, lối sống quá thiếu thốn, quá cơ cực thì lại khiến cho tâm thần mỏi mệt, không đủ ý chí để theo đuổi việc lớn.

Từ nhận định này, Ngài chọn con đường trung dung, không có những cực đoan của sự hành hạ xác thân hoặc nô lệ dục lạc, luôn giữ sự quân bình đối với những nhu cầu cần thiết trong đời sống để có đủ sức khỏe, nhưng không nuông chiều những đòi hỏi quá với sự cần thiết. Con đường trung dung này còn được các hành giả của đạo Phật ứng dụng rất thành công cho tới tận ngày nay.

Từ sự phát hiện đó, Ngài ngưng hành thân xác, thọ nhận một vài món thực phẩm thô sơ do thí chủ cúng dường. Sức khỏe nhờ vậy mà dần dần hồi phục, tinh thần minh mẫn, Ngài tự thanh tịnh hóa nội tâm, không cần đến một năng lực siêu nhiên nào hỗ trợ.

Sau 49 ngày đêm thiền định dưới cội bồ đề, vào lúc rạng đông, khi sao Mai lóe sáng trên bầu trời, Ngài bừng tỉnh, giác ngộ được Chân Lý, trở thành bậc Đại Giác Ngộ, thành Phật. Ngài đã nói lên những lời đầu tiên, sau khi giác ngộ: “Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang đi đi mãi. Như Lai đi tìm mãi mà không gặp. Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này. Lập đi lập lại đời sống quả là phiền muộn. Này hỡi người thợ làm nhà, Như Lai đã tìm được ngươi. Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa. Tất cả sườn nhà đều gãy, cây đòn dông của ngươi dựng nên cũng bị phá tan. Như Lai đã chứng quả Vô sanh bất diệt và Như Lai đã tận diệt mọi ái dục.” (Dhammapada – Kinh Pháp Cú, câu 153-154) Và tuyên ngôn cao thượng: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”.

Chúng sinh ở đây không chỉ riêng cho loài người, mà là bao gồm tất cả mọi loài chúng sinh hữu tình thể hiện qua nhiều dạng sống khác nhau ở khắp các cõi, vì tất cả mọi loài hữu tình đều có giác tánh, đều biết khổ đau, yêu thương, sợ hãi và đều muốn được sống. Tuyên ngôn của Ngài nói lên lòng từ bi và bình đẳng tuyệt đối với muôn loài chúng sinh. Ngài không chỉ nói suông, mà Ngài đã ứng dụng tuyên ngôn ấy trong suốt cuộc đời hoằng pháp độ sinh của Ngài.

Mùa hè tại Ấn Độ mưa nhiều nên côn trùng sinh sôi nẩy nở do ẩm thấp. Vì thế Đức Phật chế ra mùa an cư kiết Hạ, mỗi năm ba tháng từ sau Rằm tháng Tư cho đến Rằm tháng Bảy, để chư Tăng Ni không đi ra ngoài, tránh giẫm đạp lên côn trùng.

Từ tấm lòng từ bi vô bờ bến, Ngài đã chế giới tu sĩ không được chặt cây, đào đất, vì làm như vậy có thể giết hại các loài vi sinh vật. Sở dĩ có thể thi hành giới này vì vào thời Phật còn tại thế ở Ấn Độ, tăng sĩ ôm bình bát đi khất thực hằng ngày, không cần phải trồng trọt để mưu sinh.

Ngài ban hành giới luật Không Sát Sinh, yêu cầu mọi người chớ có tự tay mình giết hay bảo người khác giết. Ngài yêu cầu phải trân quý giá trị thiêng liêng của sự sống, phải bảo vệ sự sống đối với tất cả mọi loài chúng sinh.

Ngài cũng lên án mọi hình thức hủy hoại sự sống, khi còn tại thế Ngài kiên quyết chống lại các cuộc tế lễ của đạo Bà La Môn, đem những con vật xấu số ra cúng tế thần linh. Ngài cũng lên án những thú vui săn bắn của vua chúa. Và lẽ tất nhiên, Ngài phản đối mọi hình thức chiến tranh bạo động. Ngài chủ xướng tư tưởng từ bi bất bạo động. Ngài dạy, hận thù không thể diệt được bằng hận thù. Chỉ có lòng từ bi mới hoá giải được hận thù. Nếu không có lòng từ bi thì hận thù sẽ chồng chất từ kiếp này sang kiếp khác. Chỉ có lòng từ bi mới cởi mở được những nỗi oan ức và những khổ đau của con người..

Có lần, Ðức Phật thuyết pháp cho ông Cấp Cô Ðộc về công đức của sự cúng dường. Ngài nói “cúng dường cho Phật và Tăng chúng thì có công đức rất lớn. Nhưng có công đức lớn hơn là xây một tu viện cho Tăng chúng ăn ở và tu học. Có công đức lớn hơn xây dựng tu viện là thọ tam quy Phật, Pháp, Tăng. Có công đức hơn thọ tam quy là giữ năm giới. Có công đức hơn giữ năm giới là giữ tâm niệm từ bi, dù chỉ là trong giây phút. Nhưng có công đức hơn tất cả là quan sát sâu sắc đạo lý vô thường của sự vật”. (Tăng Chi IV trg 264 – 265).

Trong đoạn kinh văn trên, chúng ta thấy rất rõ là Ðức Thế Tôn vô cùng chú trọng đến việc tu tập tâm từ bi. Công đức giữ tâm niệm từ bi còn lớn hơn cả viêc xây tu viện cho Tăng chúng, lớn hơn cả việc cúng dường cho Đức Phật và Tăng chúng. Nếu hành trì như kinh Từ bi chỉ dạy, nếu suốt đời khi đi đứng nằm ngồi giữ một niệm từ bi, thương xót đến mọi người, mọi loài chúng sinh, thì công đức sẽ vô cùng lớn lao, khó có thể nghĩ bàn. Mà tâm từ bi, ở mức cơ bản chính là tư tưởng và hành động trân quý sự sống, bảo vệ sự sống và không tàn hại sự sống. Ai cũng muốn sống và muốn được bảo vệ sự sống ấy. Ngay cả cỏ cây, sông nước, bầu không khí cũng cần phải được săn sóc và bảo vệ, vì tất cả đều có sự sống hay đều có sự liên hệ hỗ tương với nhau. Bảo vệ môi trường sống, cũng tức là bảo vệ sự sống.

Thật vậy, lòng từ bi bình đẳng của Đức Phật luôn lan tỏa đến cho muôn loài, đến tất cả mọi dạng sống trên trái đất, dù lớn hay nhỏ, ở gần hay ở xa, mắt thấy được hay không thấy được, đã sinh hay sắp sinh, như Ngài đã nói trong Kinh Từ Bi thuộc Kinh tạng Pali:

“Nguyện cho mọi người và mọi loài đươc sống trong an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi. Nguyện cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh. Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn.”

Tâm từ bi của Ngài vô cùng bao la rộng lớn, Ngài đối xử bình đẳng với tất cả mọi người, không phân biệt thân sơ, thù bạn, từ vua chúa, vương phi đến người gánh phân, trẻ mục đồng. Ngay cả kẻ sát nhân Anguilimala hay kỹ nữ Ambapali cũng được Ngài giáo hóa và thành tựu công hạnh như các đại đệ tử của Ngài.

Câu chuyện về kẻ sát nhân Angulimala trong kinh điển Pali đã minh họa một cách hùng hồn cho tâm từ bi vô lượng của Đức Phật đã chuyển hoá được tâm của một tên sát nhân hung bạo như thế nào và cũng cho thấy sức mạnh của lòng từ bi của Angulimala do tu tập về sau, bao giờ cũng mạnh hơn bất cứ ác nghiệp nào mà y đã tạo tác.

Angulimala là một kẻ sát nhân khét tiếng. Tên của ông được lấy từ sự kiện ông đeo trên cổ một xâu chuỗi kết bằng những ngón trỏ tay phải của các nạn nhân mà ông đã giết hại (Anguli có nghĩa là ngón tay và mala là xâu chuỗi). Quân lính của triều đình lùng bắt ông, còn dân chúng thì hoảng sợ không dám ra khỏi nhà.

Một buổi sáng, đức Thế Tôn vào thành, đang bưng bát đi khất thực thì nghe có tiếng chân chạy phía sau. Ngài biết rằng Angulimala đang đuổi theo, nhưng vẫn bình thản bước đều. Angulimala lớn tiếng gọi: “Ông khất sĩ kia, đứng lại!” Thế Tôn vẫn tiếp tục đi, không mau hơn, không chậm hơn. Phong độ của Ngài rất an nhiên tự tại. Thấy vậy, Angulimala lớn tiếng hơn: “Đứng lại! ông khất sĩ kia, đứng lại! “ Đức Thế Tôn thản nhiên tiếp tục bước đi, vẻ tự tại vô úy. Angulimala chạy mau hơn chỉ trong khoảnh khắc đã đuổi kịp và la lên: “Tôi bảo ông dừng lại, tại sao không dừng?”. Thế Tôn vẫn bước đi, nói với giọng bình thản: “Này Angulimala! Ta đã dừng lại từ lâu rồi, chính anh mới là người chưa dừng lại.” Angulimala không thể hiểu được ý nghĩa của những lời này. Vì thế y lại hỏi: “Này khất sĩ, tại sao ông nói rằng ông đã dừng lại còn tôi vẫn chưa dừng?” Đức Phật đáp: “Ta nói rằng ta đã dừng lại vì ta đã từ bỏ việc giết hại chúng sanh. Ta đã từ bỏ thói bạo hành, tàn sát mọi loài và ta đã an trú vào lòng từ đối với muôn loài, lòng kham nhẫn và trí tuệ do tư duy quán sát. Song ngươi vẫn chưa từ bỏ việc giết hại và đối xử tàn bạo với người khác cũng như chưa an trú vào lòng từ bi và kham nhẫn đối với mọi loài hữu tình. Do đó, người vẫn là người chưa dừng lại”. Thái độ điềm đạm và câu trả lời của Phật đã làm cho Angulimala kinh ngạc và đột nhiên buông dao hối hận. Phật liền làm lễ thế phát cho Angilimala trở thành một tu sĩ ngay tại chỗ. Từ đó về sau, Angulimala (pháp danh mới là Ahimsaka) đã tu tập rất tinh tấn, trở thành một trong những đệ tử lớn của Phật và đạt được giác ngộ sau đó.

Trong xã hội Bà La Môn, sự phân chia giai cấp được mô tả là vô cùng khắc nghiệt, giai cấp hạ lưu chỉ đụng tay vào giai cấp thượng lưu cũng đủ để bị tội chặt tay, thì một quan điểm bình đẳng rốt ráo, bình đẳng không chỉ giữa người với người, mà trên bình diện chúng sinh như thế của nhà Phật, phải nói là đức Phật đã làm một cuộc đại cách mạng. Ngay đến bây giờ, tại nhiều quốc gia trên thế giới, người ta vẫn còn đang phải chật vật tranh đấu để giành quyền bình đẳng giữa nam nữ, giữa các mầu da, vân vân, thì đức Phật, cách nay hơn hai ngàn năm trăm năm, đã tuyên bố: “Không có sự khác biệt giữa những giọt nước mắt cùng mặn và những giọt máu cùng đỏ”, cao thượng thay lời nói của bậc Đại Giác!

Suốt quãng đường dài hơn hai ngàn năm trăm năm của Phật giáo, không giọt máu nào đổ xuống vì sự truyền bá Phật pháp. Ðức Phật mãi là nhà truyền giaó đầu tiên và vĩ đại nhất đã từng sống trên thế gian này. Những tư tưởng từ bi bình đẳng của Ngài đã tuôn chảy như những dòng suối ngọt ngào lan tỏa đi khắp nơi, khắp chốn, mang hoà bình an lạc đến với chúng sinh. Có lẽ Ngài cũng là vị Giáo Chủ đầu tiên đã ra tận chiến trường để tìm cách ngăn chận chiến tranh. Ngài đã hóa giải sự xung đột giữa bộ tộc Sakya và bộ tộc Koliya khi hai bên đang sửa soạn tấn công vì tranh chấp nước sông Rohini. Ngài cũng đã thuyết phục vua Ajatasanu bỏ ý định tấn công vương quốc của bộ tộc Vaiji.

Hơn hai ngàn năm trăm năm đã trôi qua, dù cho mọi sự vật đều đổi thay, biển xanh biến thành ruộng dâu, nhưng suối nguồn từ bi bình đẳng từ cội Vô ưu vẫn tuôn chảy đến ngày nay, vẫn ngày đêm lan tỏa để thức tỉnh, giác ngộ cho nhân loại đang chìm đắm trong khổ đau, thù hận và vô minh.

Tâm Hướng Phật/TH!

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

BÀI VIẾT LIÊN QUAN