Tâm Hướng Phật
Nghi Thức

Nghi thức hồng danh sám hối tại nhà đầy đủ Phật tử nên biết

Hồng danh sám hối hay còn gọi là hồng danh Bửu sám, là pháp sám hối trì niệm danh hiệu Phật. Dưới đây nghi thức hồng danh sám hối, quý độc giả có thể tham khảo để thực hiện.

Đức Phật dạy“ Trên đời có hai hạng người đáng quý nhất, một là người không mắc phải lỗi lầm gì, hai là người có lỗi nhưng biết sai và sửa chữa”. Ít nhiều chúng ta thường mắc phải những lỗi lầm trong cuộc sống. Nhưng nhận ra lỗi sai và sửa lỗi sẽ khiến chúng ta nhận được sự kính trọng của người khác.

1. Sám hối là gì?

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Sám giả Sám kỳ tiền khiên, Hối giả hối Kỳ hậu quá”, nghĩa là: Ăn năn lỗi trước, chừa bỏ lỗi sau. Vậy Sám hối đúng nghĩa theo Chánh Pháp là nhận biết được lỗi đã gây tạo, ăn năn sửa lỗi và hứa không làm những điều này về sau.

Sám hối theo nghĩa thông thường là xin lỗi. Xét về mặt xã hội, xin lỗi là một hành vi đạo đức của con người, khi họ đã gây ra những lỗi lầm và muốn được người bị tổn thương tha thứ. Xin lỗi là một hành động được ba mẹ, nhà trường dạy dỗ khi chúng ta còn bé và đó là điều cần thiết trong cuộc sống.

Các bậc Thánh hiền xưa đã dạy rằng: “Nếu mắc lỗi lầm thì công khai nhận lỗi đó, rồi tìm ra biện pháp và quyết tâm để sửa chữa. Thái độ đối với lỗi lầm như thế là thước đo một người chân chính, trung thực đáng cho mọi người tin cậy và kính trọng”.

Thế nhưng con người thường rất e dè trước lời xin lỗi bởi họ bị gắn chặt bởi chấp thủ và chấp ngã. Chấp thủ chính là việc gì cũng cho mình là đúng, người khác sai. Đó còn gọi là tính bảo thủ. Chấp ngã là đề cao cái tôi của mình, dù có biết lỗi nhưng không nhận lỗi vì sợ làm mất giá trị của bản thân, người khác coi thường. Vì thế nên đối với những người này, hai từ xin lỗi thường nặng nề và không được sử dụng đến.

Các pháp sám hối: Chúng biết lỗi lầm là do tâm tạo, cho nên cũng phải do tâm ăn năn sám hối, chính vì lẽ đó mà các vị tổ sư đã chọn lọc một số phương pháp sám hối trên cả hai phương diện sự và lý. Bài văn sám hối mà người Phật tử thường đọc nhất mỗi khi tác pháp sám hối:

Xưa nay đã tạo bao ác nghiệp,
Đều bởi vô thỉ tham sân si
Từ thân miệng ý mà sanh ra
Tất cả, nay con xin sám hối.

2. Ý nghĩa của việc sám hối

Sám hối đúng Pháp trên tinh thần quán xét lại tội lỗi mình đã gây tạo và thành tâm ăn năn, tự mình cải thiện không lặp lại hành động đó. Đây chính là Ý nghĩa sám hối của đạo Phật.

Trong kinh Hoa Nghiêm Đức Phổ Hiền Bồ Tát đã nói: “Nếu tội của chúng sanh có hình tướng, thì tất cả hư không cũng không thể chứa hết”. Bởi tội từ tâm mà sanh ra, không hình tướng nên chúng ta phải diệt tội từ trong tâm có nghĩa là dùng tâm thành kính để hối lỗi.

Sám hối, cũng được cho là để “tỏ bày lỗi lầm của mình trước Phật, Bồ-tát, Sư trưởng hay đại chúng với mục đích mong được diệt tội”. Vậy sám hối có xóa sạch được tội? Và ai là người có thể “giải tội” cho mình?

Nếu sám hối mang ý nghĩa chỉ bày tỏ lòng hối tiếc hối hận những gì mình đã làm với mình, với người, với chúng sinh hoặc với một ai đó, và từ bỏ những lỗi lầm từ nay trở về sau, nhưng suy cho cùng thành thật nhìn lại thì tội ta gây ra đã hết chưa? Chưa. Vì vậy sám hối hết tội hay không nó đòi hỏi cả một quá trình còn lại của chúng ta trong ý nghĩa bày tỏ sám hối ăn năn đó.

Sám hối đúng nghĩa theo Chánh Pháp là nhận biết được lỗi đã gây tạo, ăn năn sửa lỗi và hứa không làm những điều này về sau. Các bậc Thánh hiền xưa đã dạy rằng: “Nếu mắc lỗi lầm thì công khai nhận lỗi đó, rồi tìm ra biện pháp và quyết tâm để sửa chữa. Thái độ đối với lỗi lầm như thế là thước đo một người chân chính, trung thực đáng cho mọi người tin cậy và kính trọng”.

Thế nhưng con người thường rất e dè trước lời xin lỗi bởi họ bị gắn chặt bởi chấp thủ và chấp ngã. Chấp thủ chính là việc gì cũng cho mình là đúng, người khác sai. Đó còn gọi là tính bảo thủ. Chấp ngã là đề cao cái tôi của mình, dù có biết lỗi nhưng không nhận lỗi vì sợ làm mất gía trị của bản thân, người khác coi thường. Vì thế nên đối những người nay, hai từ xin lỗi thường nặng nề và không được sử dụng đến.

Những người gây tội lỗi thường cảm thấy không yên ổn trong cuộc sống bởi lương tâm ray dứt hoặc sau đó gặp những chuyện không may xảy ra. Vì thế, chỉ cần sám hối một cách thành tâm sẽ làm cho tâm hồn được nhẹ nhàng thanh thản.

Ý nghĩa của sám hối, song song với việc nhìn nhận lỗi lầm mình đã gây tạo, phải thường xuyên chính niệm tỉnh giác đánh bật gốc rễ thành kiến, phiền não. Dù ở bất kì góc độ nào, luôn làm chủ lời nói, hành vi của mình và nghĩ nhiều đến lợi ích tha nhân.

3. Lợi ích của sám hối

Nếu người Phật tử biết sám hối nghĩa là biết sửa đổi, tức nhiên là một người đó có tiến bộ trên con đường tu tập sẽ được những lợi ích thiết thực trong hiện tại cũng như tương lai.

Đức Phật đã dạy trong kinh Trường A Hàm: “Ai biết sửa đổi lỗi lầm thì người đó có tiến bộ trong giáo pháp của Như Lai” và Ngài cũng khẳng định: “Người có lỗi không biết sửa đổi, diệt trừ nơi tự tâm, thì lỗi ấy sẽ đến thân, như nước chảy về biển, dần dần thành sâu rộng ” (Kinh tứ thập nhị chương). Qua đó chúng ta rút ra được những lợi ích như sau:

Mọi hành động trong đời sống không bị sa vào lầm lỡ vì chúng ta đã có ý chí cương quyết biết nhận ra lỗi lầm.

Phẩm giá con người được nâng cao, các hạnh lành càng ngày càng phát triển, vì không tạo nhân xấu trong hiện tại.

Thân tâm luôn luôn nhẹ nhàng vì không lo âu sầu muộn.

4. Sám hối Hồng danh là gì?

Hồng danh sám hối hay còn gọi là Hồng danh Bửu sám. Danh hiệu của Phật là danh hiệu tôn quý nhất trong đời, nên gọi là “Hồng danh”.

Sám hối Hồng danh là pháp sám hối trì niệm nên danh hiệu Phật đồng thời nghĩ đến oai đức vô biên và những công hạnh cao đẹp, hoàn mỹ của chư Phật mà tự tâm ta phải nguyện thực hành theo để chuyện đổi tâm xấu ác của mình. Tổng cộng gồm 108 lạy, cũng để ám chỉ 108 phiền não. Hồng Danh của chư Phật có công đức không thể nghĩ bàn nên Ngài Bất Động pháp sư đã soạn thành nghi thức sám hối mà hầu hết hiện nay các chùa đều thực hành.

Nghi thức hồng danh sám hối tại nhà đầy đủ Phật tử nên biết

5. Nghi thức hồng danh sám hối

1. Tụng ba lần Chú Tịnh Khẩu Nghiệp Chơn-Ngôn để cho nơi miệng mình được thanh tịnh:

“Tu rị, tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, ta bà ha”(3 lần)

2. Tụng ba lần Chú Tịnh Thân Nghiệp Chơn-Ngôn để cho thân được thanh tịnh, sạch sẽ:

“Tu đa rị, tu đa rị, tu ma rị, ta bà ha”(3 lần)

3. Tụng ba lần Chú An Thổ-Địa Chơn-Ngôn để cho nơi chỗ đất đai và nhà cửa của mình được thanh tịnh:

“Nam mô tam mãn đa, một đà nẫm, án độ rô, độ rô, địa vĩ, ta bà ha”(3 lần)

4. Tịnh Pháp Giới Chơn-Ngôn

Án lam, tóa ha (3 lần)

5. Tịnh Tam Nghiệp Chơn-Ngôn

Án ta phạ, bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám (3 lần)

6. Nguyện Hương

Nguyện mây hương mầu này
Khắp cùng mười phương cõi
Cúng dường tất cả Phật
Tôn pháp, các Bồ Tát
Vô biên chúng Thanh Văn
Và cả thảy Thánh Hiền
Duyên khởi đài sáng chói
Trùm đến vô biên cõi
Khắp xông các chúng sanh
Đều phát lòng bồ đề
Hết một báo thân này
Sanh về cõi Cực Lạc.
Nam Mô hương cúng dường Bồ Tát (lạy 1 lạy)

7. Lễ Tán Phật

Đấng pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loài
Quy y tròn một niệm
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận (xá) O

8. Quán tưởng

Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười Phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y O

9. Đảnh Lễ

Chí Tâm Đảnh Lễ: Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai, thập phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trụ Tam Bảo. ( 1 lạy ) O

Chí Tâm Đảnh Lễ: Nam mô Ta bà Giáo chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. ( 1 lạy ) O

Chí Tâm Đảnh Lễ: Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. ( 1 lạy ) O

10. Tán lư hương

Lư hương vừa ngún chiên đàn,
Khói thơm ngào ngạt muôn ngàn cõi xa,
Lòng con kính ngưỡng thiết tha,
Ngưỡng mong chư Phật thương mà chứng minh
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)

11. Chú Đại Bi

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần )

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.
Nam mô a lị da bà lô kiết đế thước bát ra da.
Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.
Nam mô tất kiết lật đỏa y mông, a lị da bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì, hê lị ma ha bàn đà sa mế. Tát bà a tha đậu thâu bằng a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê lô ca đế, ca ra đế, di hê lị. Ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê lị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xa da đế. Đà ra đà ra địa ri ni, thất phật ra da. Giá ra giá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ. Y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì địa rị sắc ni na. Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha, Ma ha tất đà dạ ta bà ha, Tất đà du nghệ thất bàn ra da, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư da ta bà ha, ta bà ma ha a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha.

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a lị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ ta bà ha. Án tất điện đô mạn đa ra bạt đà dạ, ta bà ha.

12. Kệ khai kinh

Phật pháp rộng sâu rất nhiệm mầu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe thấy chuyên trì tụng
Nguyện hiểu Như Lai nghĩa nhiệm mầu
Nam mô Thập phương thường trụ Tam Bảo. (3 lần)

13. Hồng danh bảo sám (Pháp sư Bất Động thuật)

Tán Thán công đức của Chư Phật

Đại từ đại bi thương chúng sanh
Đại hỷ đại xả cứu hàm thức,
Tướng tốt sáng rỡ dùng nghiêm thân,
Chúng con chí tâm quy mạng lễ.

Quy y Tam Bảo

Nam mô quy y Kim Cang Thượng sư.
Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.

Phát tâm tối thượng thừa

Con nay phát tâm chẳng vì tự cầu phước báo Nhân, Thiên cùng quả Thanh văn, Duyên giác, nhẫn đến các quả vị Bồ tát trong quyền thừa. Con chỉ y theo Tối thượng thừa phát tâm Bồ-đề, nguyện cùng chúng sanh trong pháp giới chung một lúc đồng chứng đặng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. (O, lạy 1 lạy)

Quy y vô tận Tam Bảo

Nam mô quy y khắp mười phương cùng tận cõi hư không tất cả các đức Phật
Nam mô quy y khắp mười phương cùng tận cõi hư không tất cả tôn Pháp.
Nam mô quy y khắp mười phương cùng tận cõi hư không tất cả Hiền Thánh Tăng.

Xưng dương 10 hiệu của Phật

Nam mô Như Lai, Ứng cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. (O, lạy 1 lạy)

Lễ 89 hiệu Phật

Nam mô Phổ Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Phổ Minh Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Phổ Tịnh Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Chiên Đàn Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Ma Ni Tràng Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Nhất Thiết Thế Gian Nhạo Kiến Thượng Đại Tinh Tấn Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Ma Ni Tràng Đăng Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Huệ Cự Chiếu Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Hải Đức Quang Minh Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Kim Cang Lao Cường Phổ Tán Kim Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Đại Cường Tinh Tấn Dõng Mãnh Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Đại Bi Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Từ Lực Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Từ Tạng Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Chiên Đàn Khốt Trang Nghiêm Thắng Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Hiền Thiện Thủ Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Thiện Ý Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Quảng Trang Nghiêm Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Kim Hoa Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Hư Không Bảo Hoa Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Lưu Ly Trang Nghiêm Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Phổ Hiện Sắc Thân Quang Phật (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Bất Động Trí Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Hàng Phục Chúng Ma Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Tài Quang Minh Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Trí Huệ Thắng Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Di Lặc Tiên Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Thiện Tịch Nguyệt Âm Diệu Tôn Trí Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Thế Tịnh Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Nhật Nguyệt Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Nhật Nguyệt Châu Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Huệ Tràng Thắng Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Diệu Âm Thắng Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Thường Quang Tràng Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Quang Thế Đăng Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Huệ Oai Đăng Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Pháp Thắng Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Tu Di Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Tu Ma Na Hoa Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Ưu Đàm Bát La Hoa Thù Thắng Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Đại Huệ Lực Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô A Súc Tỳ Hoan Hỷ Quang Phật (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Vô Lượng Âm Thanh Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Tài Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Kim Hải Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Đại Thông Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Nhất Thiết Pháp Tràng Mãn Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Thích-ca Mâu-ni Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Kim Cang Bất Hoại Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Bảo Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Long Tôn Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Tinh Tấn Quân Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Tinh Tấn Hỷ Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Bảo Hoả Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Bảo Nguyệt Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Hiện Vô Ngu Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Bảo Nguyệt Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Vô Cấu Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Ly Cấu Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Dõng Thí Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Thanh Tịnh Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Thanh Tịnh Thí Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Ta Lưu Na Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Thuỷ Thiên Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Kiên Đức Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Chiên Đàn Công Đức Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Vô Lượng Cúc Quang Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Quang Đức Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Vô Ưu Đức Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Na La Diên Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Công Đức Hoa Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Liên Hoa Quang Du Hí Thần Thông Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Tài Công Đức Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Đức Niệm Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Thiện Danh Xưng Công Đức Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Hồng Diệm Đế Tràng Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Thiện Du Bộ Công Đức Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Đấu Chiến Thắng Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Thiện Du Bộ Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Châu Tráp Trang Nghiêm Công Đức Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Bảo Hoa Du Bộ Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Ta La Thọ Vương Phật. (O, lạy 1 lạy)

Nam mô Pháp Giới Tạng Thân A-di-đà Phật. (O, lạy 1 lạy)

Sám hối tội lỗi

Các đức Phật Thế Tôn khắp trong tất cả thế giới như thế thường trụ tại trong đời, xin các đức Thế Tôn nên từ niệm con.

Hoặc đời này của con, hoặc đời trước của con, con từ vô thỉ sanh tử nhẫn đến nay gây phạm các điều tội lỗi, hoặc tự mình làm hoặc bảo người làm, hoặc thấy người làm mình vui mừng theo.

Đồ vật của tháp, của hiện tiền Tăng, hay của tứ phương Tăng, hoặc tự mình lấy, hoặc bảo người lấy, hoặc thấy người lấy mình vui mừng theo.

Năm tội vô gián, hoặc tự mình làm, hoặc bảo người làm, hoặc thấy người làm mình vui mừng theo.

Mười điều bất thiện, hoặc tự mình phạm, hoặc bảo người phạm, hoặc thấy người phạm mình vui mừng theo.

Bao nhiêu tội chướng của con gây tạo ra, hoặc có che giấu hoặc không che giấu, đáng đoạ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cùng các ác thú khác, đoạ vào chốn biên địa, hạng hạ tiện, kẻ ác kiến. Những tội chướng đáng bị đoạ vào các nơi khổ báo như thế, nay con đều sám hối.

Hồi hướng căn lành

Nay các đức Phật Thế Tôn nên chứng biết cho con. Con lại đối trước các đức Phật Thế Tôn bạch lời này:

Hoặc đời này của con, hoặc đời khác của con đã từng làm việc bố thí, hay giữ gìn giới pháp trong sạch, nhẫn đến thí cho loài chim muông một vắt cơm.

Hoặc đã từng tu hạnh thanh tịnh có bao nhiêu căn lành, thành tựu chúng sanh có bao nhiêu căn lành, tu hành đạo Bồ-đề có bao nhiêu căn lành, cho đến đã từng phát tâm vô thượng Phật trí có bao nhiêu căn lành; hiệp nhóm so đếm tính lường tất cả căn lành thảy đều hồi hướng về đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Các đức Phật trong thuở quá khứ, vị lai và hiện tại cách thức hồi hướng như thế nào, con cũng hồi hướng như thế đó. (O, lạy 1 lạy)

Tổng kết hai đoạn trước

Những tội lỗi con đều sám hối.
Các phước lành con vội tuỳ hân (vui theo).
Với cùng thỉnh Phật công huân,
Trí mầu vô thượng nguyện thuần nên ngay.
Các đức Phật khứ, lai, hiện tại.
Trong chúng sanh thắng Đại Thánh vương.
Biển khơi công đức không lường.
Con nay quy mạng nguyện thường lễ tin. (O, lạy 1 lạy)

Lễ kính chư Phật

Trong bao nhiêu mười phương cõi nước
Cả ba đời các đức Pháp vương
Con dùng ba nghiệp tịnh xương (sạch tốt)
Khắp lễ tất cả mười phương vẹn tuyền
Sức thần oai Phổ Hiền hạnh nguyện.
Trước Như Lai khắp hiện tự thân,
Mỗi thân lại hiện trần thân,
Thân thân lễ khắp sát trần Thế Tôn. (O, lạy 1 lạy)

Xưng tán Như Lai

Trong một trần có trần số Phật.
Đều ở trong hội bực thượng nhân.
Khắp cùng pháp giới mảy trần.
Sâu tin chư Phật đều thường đầy trong
Biển âm thanh đều dùng trọn vận,
Diệu ngôn từ vô tận khắp vang,
Vị lai cả kiếp thảy toàn (tất cả)
Ngợi khen Phật đức biển ngàn rất sâu! (O, lạy 1 lạy)

Quảng tu cúng dường

Tràng hoa đẹp rất xinh thơm ngát,
Cùng hương xoa, kỹ nhạc, lọng tàn,
Như kia đồ tốt trang hoàng,
Cúng dường chư Phật con toàn kính dâng
Y tối thắng cùng hương tối thắng.
Với đuốc đèn, hương phấn, hương xông
Đều nhiều như Diệu Cao Phong (núi Tu-di).
Cúng dường chư Phật con đồng dâng lên
Tâm thắng giải mông mênh con dụng,
Phật ba đời thảy cũng tin kiên (tin chắc)
Đều nương hạnh nguyện Phổ Hiền,
Cúng dường chư Phật khắp miền mười phương. (O, lạy 1 lạy)

Sám hối nghiệp chướng

Các tội ác xưa con lầm lỡ,
Do tham sân muôn thuở gây nên,
Từ thân ngữ ý sanh lên,
Nay con cả thảy đều bền sám luôn. (O, lạy 1 lạy)

Tùy hỷ công đức

Bậc Nhị thừa: Học cùng Vô học,
Các chúng sanh khắp dọc mười phương
Như Lai Bồ-tát thảy toàn,
Có bao công đức con càng vui ưa. (O, lạy 1 lạy)

Thỉnh Chuyển Pháp Luân

Thế gian đăng trong mười phương nước
Lúc tối sơ thành được Bồ đề
Nay con đều thỉnh một bề
Giảng truyền pháp diệu vỗ về quần sanh. (O, lạy 1 lạy)

Thỉnh Phật trụ thế

Các đức Phật muốn toan nhập diệt
Con chí thành mải miết ân cần
Cúi mong ở mãi kiếp trần,
Làm cho lợi lạc khắp cùng sanh linh. (O, lạy 1 lạy)

Phổ giai hồi hướng

Bao nhiêu phước cúng dường, lễ tán
Thỉnh ở đời cùng giảng pháp luân
Vui theo sám hối thiện căn
Hồi sanh hướng Phật cao thăng Bồ đề. (O, lạy 1 lạy)

Quy Chơn Thừa và tổng kết

Con nguyện đem đức dày thắng lợi
Hồi hướng chơn pháp giới tối cao
Tánh, tướng Tam Bảo thế nào
Hải ấn tam muội dung vào tục chơn
Biển công đức khôn lường như thế
Nay con đều đem để hồi về:
Dưới cho muôn loại nương kề
Cùng con đồng chứng Bồ đề đạo chơn. (O, lạy 1 lạy)

Bao nhiêu chúng nơi thân, khẩu, ý
Lòng mê lầm móng nghĩ sân, si
Chê bai chánh pháp Mâu Ni (Phật)
Thân tâm phạm quấy kể gì phải chăng
Như trên nghiệp chướng tội thâm
Nguyện tiêu diệt hết ác tâm chẳng còn
Trí huệ khắp đầy tròn pháp giới
Độ chúng sanh chẳng ngại gian lao
Hư không thế giới dẫu hao
Chúng sanh phiền não với nào nghiệp chung (cùng tận)
Nay con hồi hướng rộng lung,
Cũng như bốn pháp vô cùng vô biên! (O, lạy 1 lạy)
Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ-tát Ma-ha-tát (3 lần).

14. Bát Nhã Tâm Kinh

Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ ẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.

Xá Lợi Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá Lợi Tử ! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận, vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo, vô trí diệt vô đắc.

Dĩ vô sở đắc, cố Bồ đề tát đỏa, y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật y Bát nhã Ba la mật đa, cố đắc A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề.

Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị Đại thần chú, thị Đại minh chú, thị Vô thượng chú, thị Vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:

(Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha – đọc câu này 3 lần)

15. Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú

Nam-mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tì ca lan đế, a di rị đa, tì ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (3 lần).

Nguyện ngày an lành đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện từ bi thường gia hộ
Nam mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ-tát Ma-ha-tát (3 lần)

16. Tán Phật A Di Đà

Phật A Di Đà thân kim sắc
Tướng tốt quang minh tự trang nghiêm
Năm Tu Di uyển chuyển bạch hào
Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc
Trong hào quang hóa vô số Phật
Vô số Bồ Tát hiện ở trong
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh
Chín phẩm sen vàng lên giải thoát
Quy mạng lễ A Di Đà Phật
Ở phương Tây thế giới an lành.
Con nay xin phát nguyện vãng sanh.
Cúi xin Đức Từ Bi tiếp độ.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

Nam mô A Di Đà Phật (108 lần hoặc tùy niệm càng nhiều càng tốt)
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ-tát (10 lần)
Nam mô Đại Thế Chí Bồ-tát (10 lần)
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ-tát (10 lần)
Nam Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ-tát (10 lần)

Đệ tử kính lạy,
Đức Phật Thích-ca,
Phật A-di-đà,
Mười phương chư Phật,
Vô thượng Phật pháp,
Cùng Thánh Hiền Tăng,
Đệ tử lâu đời lâu kiếp,
Nghiệp chướng nặng nề,
Tham giận kiêu căng,
Si mê lầm lạc,
Ngày nay nhờ Phật,
Biết sự lỗi lầm,
Thành tâm sám hối,
Thề tránh điều dữ,
Nguyện làm việc lành,
Ngửa trông ơn Phật,
Từ bi gia hộ,
Thân không tật bệnh,
Tâm không phiền não,
Hằng ngày an vui tu tập,
Pháp Phật nhiệm mầu,
Để mau ra khỏi luân hồi,
Minh tâm kiến tánh,
Trí huệ sáng suốt,
Thần thông tự tại,
Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng,
Cha mẹ, anh em,
Thân bằng quyến thuộc,
Cùng tất cả chúng sanh,
Đều trọn thành Phật đạo.

17. Hồi Hướng

Niệm Phật công đức thù thắng hạnh
Vô biên thắng phước giai hồi hướng
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh
Tốc vãng vô lượng quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ
Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.
Nguyện sinh Tây Phương Tịnh độ trung
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu
Hoa khai kiến Phật ngộ Vô sanh
Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhất thiết
Ngã đẳng dữ chúng sinh
Giai cộng thành Phật đạo.

(Quỳ xuống chấp hai tay lại đưa lên ngang ngục thành tâm hồi hướng, nguyện):

Con nguyện đem công đức này, cúng dường lên 3 ngôi Tam Bảo, 4 ơn cùng 3 cõi pháp giới chúng sinh đồng thành Phật đạo.

Con xin hồi hướng công đức này nguyện cho quốc thái dân an chúng sinh an lạc thế giới hòa bình.

Hồi hướng cho tất cả các vong linh ở xung quanh đây, các oán hồn yểu tử thập loại cô hồn đầu ngành cuối bể, không nhà không cửa, chiến sỹ trận vong, đồng bào tử nạn, các oan gia trái chủ nhiều đời nhiều kiếp của con xả bỏ oán thù, cùng con niệm phật, được nhiều phước báu tốt đẹp, thảy đều siêu thoát, hồi hướng về Tây Phương Tịnh Độ.

Nguyện hồi hướng công đức này đến cho… (người mất tên gì nói ra…) được nhiều phước báu tốt đẹp sanh về cõi Tịnh độ an nhàn.

Nguyện hồi hướng công đức này đến Cha Mẹ anh chị em thân bằng quyến thuộc hiện tiền của con thân tâm an lạc, thiện căn tăng trưởng, thọ mạng lâu dài, nghiệp chướng tiêu trừ, tứ đại điều hòa, làm lành lánh dữ, biết đến Phật Pháp, chuyên tâm tu hành.

Nguyện hồi hướng công đức này đến với Cửu Huyền Thất Tổ nội ngoại đôi bên đồng sanh Tịnh Độ.

Nguyện cho con ba chướng tiêu trừ, ba độc tiêu trừ phúc huệ tăng trưởng, thân tâm an lạc, tứ đại điều hòa, tâm Bồ Đề tăng trưởng, hết một báo thân này con nguyện sinh về Tây Phương Cực Lạc.

– Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

18. Tam Tự Quy Y

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng (1 lạy)

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ Kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lạy)

Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại (1 lạy)

Tâm Hướng Phật/Tham khảo: phatgiao.org.vn!

Bài viết cùng chuyên mục

Nghi thức, bài cúng phóng sinh đúng cách và đơn giản

Định Tuệ

Nghi thức trì tụng Chú Đại Bi đúng pháp đơn giản tại nhà

Định Tuệ

Cách hồi hướng công đức cho cha mẹ tăng thêm phước báo

Định Tuệ

Nghi thức trì tụng Kinh Vô Lượng Thọ tại nhà đúng Pháp

Định Tuệ

Bài Sám Phổ Hiền Thập đại nguyện chữ Hán và tiếng Việt

Định Tuệ

Nghi thức tụng kinh A Di Đà đầy đủ, chuẩn nhất

Định Tuệ

Nghi thức sám hối sáu căn và hồng danh PDF – Thích Nhật Từ

Định Tuệ

Bài cúng ngày giỗ, mùng 1 ngày rằm theo đúng chánh Pháp

Định Tuệ

Nghi thức sám hối và cầu siêu cho các vong linh thai nhi

Định Tuệ

Viết Bình Luận