Tâm Hướng Phật
Kiến Thức

Chúng ta tu hành là tu gì vậy?

Chúng ta tu hành là tu gì vậy? Đoạn kinh văn đã nói rất rõ ràng, rất minh bạch. Pháp môn chúng ta tu là Tịnh Độ, tại sao chúng ta phải học kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo?

Các vị đồng học, mời xem tiếp kinh “Thập Thiện Nghiệp Đạo” trang thứ 5. Kinh văn hàng thứ 3: “Long Vương đương tri, Bồ-tát hữu nhất pháp, năng đoạn nhất thiết chư ác đạo khổ. Hà đẳng vi nhất? Vị ư trú dạ thường niệm, tư duy, quán sát thiện pháp, lệnh chư thiện pháp niệm niệm tăng trưởng, bất dung hào phân bất thiện gián tạp, thị tức năng lệnh chư ác vĩnh đoạn, thiện pháp viên mãn”.

Đoạn khai thị này là trung tâm của bộ kinh này, không chỉ là phần quan trọng nhất của bộ kinh này, mà cũng có thể nói đó là trung tâm mà Thích Ca Mâu Ni Phật 49 năm giảng kinh thuyết pháp, giáo hóa chúng sanh. Thích Ca Mâu Ni Phật như vậy, mười phương ba đời tất cả chư Phật Như Lai cũng không có gì khác, đó gọi là “Phật Phật đạo đồng”. Từ đó cho thấy, tính quan trọng của đoạn kinh văn này.

Chúng ta tu hành là tu gì vậy? Đoạn kinh văn đã nói rất rõ ràng, rất minh bạch. Pháp môn chúng ta tu là Tịnh Độ, tại sao chúng ta phải học kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo? Thậm chí còn có người hỏi: “Tại sao pháp sư còn phải giảng kinh Hoa Nghiêm?”. Một số người sơ học không hiểu rõ đạo lý này. Tịnh Độ học từ đâu vậy? Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, phu nhân Vi Đề Hy đã gặp đại nạn, biến cố của gia đình, biến cố của quốc gia, bà đau khổ tột cùng, cầu Thế Tôn chỉ giáo là có hoàn cảnh sống nào tốt hay không? Bà muốn cầu sanh về đó. Thế Tôn vô cùng từ bi, đem cõi nước của chư Phật mười phương biến hiện ngay trước mặt bà, để tự bà nhìn thấy, tự bà lựa chọn. Bà liền chọn thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. Bà chọn đúng rồi, Thế Tôn vô cùng tán thán đối với sự lựa chọn của bà. Bà muốn cầu sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc, Phật Thích Ca Mâu Ni dạy bà như thế nào vậy? Điều này chúng ta không thể không lưu ý. Trước tiên, Phật chưa dạy bà phương pháp vãng sanh mà dạy bà “Tịnh nghiệp tam phước”.

Điều thứ nhất: “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiệp”.

Điều thứ hai: “Thọ trì tam quy, cụ túc chúng giới, bất phạm uy nghi”.

Điều thứ ba: “Phát Bồ-đề tâm, thâm tín nhân quả, đọc tụng đại thừa, khuyến tấn hành giả”.

Phật lại nói cho bà biết, ba điều này là “Tam thế chư Phật, tịnh nghiệp chánh nhân”. Pháp môn mà ba đời chư Phật đã tu không giống nhau. Ý nghĩa này là nói, vô lượng, vô biên pháp môn, đây là căn cơ. Vô lượng, vô biên pháp môn chính là tu ba điều này. Ba điều này là tổng cương lĩnh, tổng nguyên tắc mà mười phương ba đời tất cả chư Phật giáo hóa chúng sanh. Mà tổng cương lĩnh, tổng nguyên tắc, trên thực tế chính là hai câu phía trước: “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng”, sự tu học Phật pháp bắt đầu từ chỗ này và cũng viên mãn ngay đây. Đây là căn bản, những điều phía dưới đều là phương tiện. Làm thế nào viên mãn hai câu này? Đó chính là chín câu phía sau, từ câu “Từ tâm bất sát” trở về sau là phương tiện. Ở trong phương tiện, điều quan trọng nhất là “Từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiệp”, kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo chính là giảng giải hai câu này. Bạn nghĩ xem, kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo chúng ta có cần học hay không? Bạn không hiểu được Thập Thiện Nghiệp Đạo, thì hiếu thân, tôn sư chỉ là hai câu khẩu hiệu rỗng không, không thể thực hiện.

“Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng” thực hiện ở “từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiệp”, đây là “Tịnh nghiệp chánh nhân”, đặc biệt là muốn cầu sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc. Thế giới Cực Lạc là Tịnh Độ. Tịnh Độ làm sao có thể vãng sanh vậy? Tâm tịnh thì cõi Phật tịnh. Tâm thanh tịnh rồi thì ngữ nghiệp thanh tịnh, thân nghiệp thanh tịnh, ba nghiệp đều thanh tịnh. Nếu như bạn tỉ mỉ đọc kinh Vô Lượng Thọ, kinh Vô Lượng Thọ vừa mở đầu là nhắc nhở chúng ta cương lĩnh tu hành cũng là “Tịnh nghiệp tam phước”, dạy chúng ta “khéo giữ khẩu nghiệp”. Ở trong “khéo giữ khẩu nghiệp”, điều quan trọng nhất là “không nói lỗi người”, với điều mà trong Đàn kinh của Lục Tổ Huệ Năng đại sư nói hoàn toàn tương ưng. Huệ Năng đại sư nói: “Người chân thật tu hành, không thấy lỗi thế gian”, chính là trong kinh Vô Lượng Thọ nói “khéo giữ khẩu nghiệp, không nói lỗi người”. Hằng ngày nói thị phi, hằng ngày phê bình người khác, hằng ngày ý kiến thật nhiều, thì người này không phải người tu hành, người này không phải là đệ tử Phật. Chúng ta phải hiểu rõ đạo lý này.

Phật dạy chúng ta khéo giữ ba nghiệp, dạy chúng ta phải làm đến thuần thiện. Bắt đầu từ đâu vậy? Bắt đầu từ đoạn kinh văn này. Kinh văn vừa mở đầu Phật bảo: “Long vương đương tri”, Sa Kiệt La Long Vương là người đương cơ của bản kinh. Sa Kiệt La Long Vương là đại biểu cho chúng ta. Sa Kiệt La là tiếng Phạn, nghĩa là “biển mặn”, nước biển là có vị mặn. Biểu thị ý gì vậy? Biểu thị tâm chúng ta không thanh tịnh. Nước biển là mặn, là khổ. Chúng ta biết được, trên lục địa tất cả mọi dòng sông thảy đều chảy về biển. Mỗi loại nước của dòng sông khác nhau là đại biểu cho nghiệp khác nhau của tất cả chúng sanh, đều tập trung về biển lớn. Biển lớn này chính là đại biểu cho biển nghiệp.

Trong kinh Địa Tạng chúng ta thường hay đọc, Long là đại biểu cho ý gì vậy? Long là đại biểu cho biến hóa. Chúng ta từ sáng đến tối nghĩ ngợi lung tung, niệm niệm không dừng, thiên biến vạn hóa, biểu thị ý này. Ở trong kinh Phật, điều khó hiểu nhất chính là pháp biểu trưng của kinh. Bạn hiểu được pháp biểu trưng của kinh thì kinh Phật không còn khó nữa, bạn sẽ lý giải rất dễ dàng, mới thật sự biết ý nghĩa mà Phật thuyết pháp. Trong kệ khai kinh nói: “Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”. Cho nên, đây là bảo chúng ta, bảo chúng sanh trong sáu cõi.

“Đương tri, Bồ-tát hữu nhất pháp”. Bồ-tát có nghĩa là gì vậy? Là người giác ngộ, chúng sanh giác ngộ thì gọi là Bồ-tát. Đại sư Huyền Trang phiên dịch Bồ-tát là “Giác hữu tình”. Chúng ta là chúng sanh hữu tình. Hữu tình tức là nói phàm phu lục đạo. Chúng sanh hữu tình trong mười pháp giới, chúng sanh hữu tình khi nào giác ngộ rồi, người này được gọi là Bồ-tát, cho nên ý nghĩa của Bồ-tát là chúng sanh hữu tình giác ngộ. Phàm phu thông thường là chúng sanh hữu tình mê hoặc, người này bắt đầu giác ngộ rồi. Sao gọi là giác ngộ vậy? Muốn lìa khổ được vui, người này là giác ngộ. Người thế gian chúng ta, có người nào không muốn lìa khổ được vui đâu? Người người đều muốn lìa khổ được vui. Nhưng mà họ nghĩ sai rồi, họ đem khổ cho là vui, đem vui cho là khổ. Họ bị điên đảo rồi! Đây là ngu si, đây là mê hoặc. Người thế gian cho rằng danh vọng lợi dưỡng, năm dục sáu trần là vui, họ không biết đây là nguồn gốc của khổ, hoàn toàn không phải vui. Hưởng thụ những thứ này, kết quả là khổ báo ở ba đường. Trong kinh Phật thường thường dùng “liếm mật trên lưỡi dao” để làm ví dụ, người này chưa giác ngộ. Người thật sự giác ngộ rồi thì nhất định đi theo Phật Bồ-tát, người này giác ngộ. trải qua đời sống của Phật Bồ-tát. Phật Bồ-tát sống đời sống ra sao vậy? Thứ nhất buông xả tự tư tự lợi, khởi tâm động niệm vì chúng sanh, vì xã hội, vì chánh pháp trụ lâu, người này giác ngộ rồi. Đoạn ác tu thiện, chuyển mê thành ngộ, người này được gọi là Bồ-tát.

Ở chỗ này, Phật nói cho chúng ta biết, Bồ-tát có một biện pháp, có một phương pháp: “Năng đoạn nhất thiết chư ác đạo khổ”. “Chư ác đạo” không chỉ là chỉ ba cõi sáu đường, mà bao gồm cả mười pháp giới ở trong đó.

Cái khổ ở ba đường, trong kinh Phật nói rất nhiều. Mặc dù quí vị đọc kinh không nhiều, tôi tin rằng mọi người đều đọc Kinh Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện rồi, trong kinh Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện, cái khổ trong ba đường cũng đã nói không ít. Chúng ta thường xuyên đọc, thường xuyên cảnh giác chính mình. Nếu chúng ta không thật sự làm nghiêm túc, nếu không cầu giác ngộ, trong kinh Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện nói về những quả báo đó, tức là chúng ta tương lai nhất định phải thọ nhận. Chúng ta có sợ không? Chắc chắn là không thể tránh khỏi. Vì chúng ta ngày nay khởi tâm động niệm, lời nói, việc làm đều không tương ưng với lời Phật dạy trong kinh.

Cái khổ ở nhân gian là chúng ta hiện nay đích thân cảm nhận được, trên trời tuy vui nhưng có hoại khổ, có hành khổ, pháp giới bốn thánh có cái khổ của không thể phá vô minh chứng pháp thân, mười pháp giới thảy đều khổ! Bồ-tát có phương pháp gì có thể đoạn khổ nạn của mười pháp giới vậy? Chỉ cần có khổ thì chính là ác đạo, chúng ta gọi pháp giới bốn thánh thì vẫn là ác đạo. Pháp giới bốn thánh so với nhất chân pháp giới thì nơi đó chính là ác đạo, so với sáu cõi thì đó là cõi thiện, nhưng so với nhất chân pháp giới thì đó là cõi ác. Bộ kinh này là kinh Đại Thừa, không phải kinh Tiểu Thừa.

“Hà đẳng vi nhất”, Bồ-tát rốt cuộc dùng pháp gì vậy? Ở chỗ này, Phật chỉ ra cho chúng ta thấy, bảo là ngày đêm thường niệm, tư duy, quán sát thiện pháp. “Thiện pháp” này là thông suốt đến tận phía trên. Chúng ta muốn không sợ phiền phức, đó chính là ngày đêm thường niệm thiện pháp, tư duy thiện pháp, quán sát thiện pháp, chúng ta đọc như vậy, mọi người sẽ dễ dàng hiểu. Thiện pháp là gì vậy? Phần sau chỉ ra cho chúng ta thấy, pháp ấy chính là “thập thiện nghiệp đạo”, đây là nền tảng tu hành, căn bản tu hành của chúng ta. Ngay cả điều này cũng không có thì không thể bàn đến niệm Phật nữa, khỏi phải bàn đến tu hành nữa.

“Trú dạ” là không gián đoạn, ngày nay gọi là 24 giờ không gián đoạn. “Thường niệm” là ở trong tâm thật sự có tâm thiện. “Tư duy” là ý nghĩ, khởi tâm động niệm, ý nghĩ thiện. “Quán sát” là hành vi, lời nói, việc làm, “thân, ngữ, ý” không có bất thiện, như vậy mới được. Trong tâm vẫn còn tự tư tự lợi, đây là tâm bất thiện, đây là căn bản bất thiện. Tại sao bạn lại tạo tội nghiệp vậy? Tại sao bạn lại tạo mười ác vậy? Đều là vì tự tư tự lợi, chỉ có mình, không có người khác, đây là sai lầm căn bản.

Bồ-tát giác ngộ rồi, từ đó cho thấy, phàm phu chúng ta mê. Mê chính là mỗi niệm đều tự tư tự lợi. Trong kinh Kim Cang, Phật đã nói mấy câu, chúng ta có thể đem ra đối chiếu với điều này. Trong kinh Kim Cang nói: “Nhược Bồ-tát hữu ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức phi Bồ-tát”. Đó không phải là Bồ-tát. Nửa phần sau nói rất hay: “Nhược Bồ-tát hữu ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến tức phi Bồ-tát”. “Kiến” là gì vậy? Kiến là khởi tâm động niệm, kiến giải. Chúng ta ngày nay nói, bạn còn có cách nghĩ này, cách nhìn này, thì bạn không phải là Bồ-tát, là bạn mê, là bạn không ngộ rồi, người thật sự giác ngộ là “vô ngã”. “Vô ngã” tức là chúng ta ngày nay nói tương đối dễ hiểu là không có tự tư tự lợi, người này là giác ngộ, còn có tự tư tự lợi thì người này là mê hoặc, chưa có giác ngộ.

Phàm phu có khi nghe kinh, nghe pháp, phát sinh một niệm sáng suốt, khoảnh khắc này là giác ngộ rồi. Thế nhưng ý nghĩ thứ hai lại mê, cái giác ngộ này không thể duy trì, không thể kéo dài. Chúng ta ở giảng đường nghe kinh, giống như là hiểu rõ rồi, nhưng sau khi ra khỏi đây thì liền mê hoặc, chúng ta không ngăn nổi sự cám dỗ của danh vọng lợi dưỡng, tài sắc danh thực thùy ở bên ngoài, lập tức liền thối chuyển ngay. Cho nên, ngày đêm không được gián đoạn bạn mới là Bồ-tát, thỉnh thoảng phóng quang giống như tia chớp vậy thì không khởi tác dụng. Tuy không khởi tác dụng nhưng cũng rất đáng quí, tại sao vậy? Vì từ vô thỉ kiếp đến nay vốn dĩ chưa từng phóng quang, tuy phóng quang rất ngắn ngủi nhưng một sát-na cũng rất đáng quí. Cho nên, chúng ta nhất định phải học tâm thiện, phải học ý nghĩ thiện, phải học hành vi thiện. Bắt đầu học từ đâu vậy? Bắt đầu học từ thập thiện nghiệp đạo. Bạn quyết định không được có ý nghĩ làm tổn hại chúng sanh, đây là sát sanh, không những không được sát, khiến chúng sanh sinh phiền não thì cũng ngang bằng với sát sanh.

Mạng sống của con người có xác thân vật chất, có pháp thân huệ mạng tinh thần. Cho nên, trong kinh thường nói, chư Phật Bồ-tát là khiến tất cả chúng sanh thường sinh tâm hoan hỷ, đó là chư Phật Bồ-tát. Tuyệt đối không nên khiến tất cả chúng sanh sinh phiền não, người khiến tất cả chúng sanh sinh phiền não, người này là Ma, không phải Phật, Phật không làm việc này. Có lẽ đây là Phật Bồ-tát đến thử thách bạn, đến dày vò bạn, đến khảo nghiệm bạn, có chuyện này không vậy? Có. Ma cũng biết làm việc này, nhưng Ma là dày vò bạn thật sự, không phải thử thách bạn. Phật Bồ-tát thử thách bạn, nếu bạn trải qua thử thách này, thì bạn chắc chắn thành tựu.

Giống như đánh hét ở trong Tông Môn Thiền Tông, đây là phương pháp dạy học của Thiền Tông. Người ta thật sự có năng lực, thật sự có trí tuệ, một gậy đánh xuống, người này khai ngộ ngay, đó thật sự là phương tiện. Đánh chết cũng không khai ngộ, đó là Ma, đó chắc chắn không phải Phật. Phật biết, một thiền bảng đánh xuống, họ liền khai ngộ ngay, minh tâm kiến tánh ngay. Khi một tiếng hét lên, họ liền khai ngộ rồi, họ hiểu rõ rồi. Nếu như đánh họ cũng không khai ngộ, la hét cũng không khai ngộ, thì tuyệt đối không dùng phương pháp này. Ma học cách thức này của Bồ-tát, hại tất cả chúng sanh còn tự cho mình tốt: “Tôi thành tựu cho anh”. Cho nên, chúng ta phải có năng lực phân biệt giữa Phật với Ma, tuyệt đối không để bị lừa. Đây là đưa ra cương lĩnh này, “ngày đêm đều phải tư duy thiện pháp, phải tâm thiện, hành thiện”.

Được rồi, hôm nay thời gian đã hết, chúng tôi chỉ giảng đến đây. A Di Đà Phật!

Trích trong:
PHẬT THUYẾT THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO KINH Tập 13
Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore
Thời gian: năm 2001
Người dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ
Biên tập: Phật tử Diệu Hương, Phật tử Diệu Hiền

Bài viết cùng chuyên mục

Muốn Vãng Sanh, thấp nhất là niệm đến công phu thành phiến

Định Tuệ

Quỷ là gì? Vì sao chúng có thể biến hóa thành người, súc sanh?

Định Tuệ

Mê ngộ là căn bản, thiện ác lại là thứ yếu, là cành ngọn

Định Tuệ

Cách đối trị các bệnh dễ gặp khi niệm Phật

Định Tuệ

Trì chú có công dụng gì? Trì chú trước tiên phải chánh tâm thành ý

Định Tuệ

Một câu Nam Mô A Di Đà Phật là Lý tánh Bổn Giác của chúng sanh

Định Tuệ

Phật tánh là bổn nguyên của tất cả chúng sanh

Định Tuệ

Dạy trì danh niệm Phật Tam Muội

Định Tuệ

Có bao nhiêu loài Ngạ quỷ? Họ ở đâu, sống bằng cách nào?

Định Tuệ

Viết Bình Luận