Tâm Hướng Phật
Nghi Thức

Nghi thức tụng kinh, niệm Phật, trì Chú tại gia

Tụng Kinh, trì Chú và niệm Phật là ba nghi lễ trợ duyên mang đến cho Phật tử công đức để đạt kết quả trên con đường tu học. Dưới đây là cách thức tụng Kinh, trì Chú, niệm Phật quý Phật tử có thể tham khảo!

Tụng Kinh, trì chú và niệm Phật là ba nghi lễ trợ duyên mang đến cho Phật tử công đức để đạt kết quả trên con đường tu học. Đã là Phật tử thì không ai không biết. Song đây vẫn còn có người cho rằng những nghi lễ này khá phức tạp, nếu thực hành sai thì sẽ mang tội với chư Phật.

Theo lời Đức Phật, dù tu hành bằng cách nào, tu sai hay tu đúng, tu thành tâm hay vọng tâm thì các Phật tử đều có phúc báu nhất định nhưng với mức độ khác nhau và đều không có tội.

Người tu vọng tâm cũng phúc báu nhưng phúc báu sẽ ít hơn những người tu thành tâm. Người tu thành tâm nhưng tu sai cũng sẽ có ít phúc báu hơn người tu thành tâm mà tu đúng.

Người tu tại gia cần nắm rõ cách tụng Kinh, trì chú và niệm Phật để khi thực hiện hành trì tại nhà có thể phát huy một cách hiệu quả và tiến xa hơn trên con đường tu học của mình.

I. Tụng Kinh

Tụng kinh là hành động đọc để tìm hiểu ý nghĩa và ghi nhớ lời dạy của chư Phật. Nhờ đó mà Phật tử sẽ ứng dụng vào trong cuộc sống hằng ngày để có thể chuyển hóa, chế ngự được những thói xấu tật hư của bản thân.

Tất cả các bộ Kinh của Đức Phật đều có ý nghĩa về mặt phúc báu như nhau. Dù tụng Kinh gì, bằng ngôn ngữ gì và trong hoàn cảnh nào thì cũng đều có phúc báu. Cho nên mỗi Phật tử có thể chọn bất cứ bộ Kinh nào để tụng chứ không nhất thiết phải: tụng Kinh Phổ Môn, Dược Sư khi muốn cầu an; tụng Kinh A Di Đà, Vu Lan khi cầu siêu hoặc khi ăn chay mới được tụng Kinh Pháp Hoa…

Phật tử nên chọn những bộ Kinh đã được chư Tăng, Ni, các dịch giả dịch ra tiếng Việt. Như thế sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn lời dạy của Đức Phật.

Về cách thức tiến hành thì tùy vào hoàn cảnh và điều kiện mà các Phật tử tại gia có thể linh hoạt sao cho phù hợp, nhưng cơ bản gồm các bước sau đây:

Trước hết phải chuẩn bị tư thế trang nghiêm: vệ sinh sạch sẽ, trang phục chỉnh tề.

Sau đó bước đến thắp hương lên bàn thờ Phật và vái 3 lạy, để nguyên tư thế chắp tay và tụng luôn một bài Kinh mình chọn. Các Phật tử có thể tụng đầy đủ Phẩm, nếu không có thời gian hoặc sức khỏe thì sẽ đặt ra mục tiêu hôm nay ta tụng mấy Phẩm. Khi dừng lại ở Phẩm nào cần có một tờ giấy để đánh dấu và hôm sau ta sẽ tụng Phẩm tiếp theo.

Trong khi tụng, các Phật tử có thể tụng thành tiếng khi ở một mình trong phòng riêng hoặc tụng thầm nếu không muốn người khác nghe thấy. Và mặc dù tụng Kinh với hình thức như thế nào: tự xướng hay có Khánh, Chuông, Mõ thì điều quan trọng nhất chính là sự thành tâm.

Trong khi hành trì các Phật tử cần phải có chánh niệm tuyệt đối, loại bỏ được ý niệm đời thường thì công đức và phúc báu tạo ra mới được viên mãn.

Nếu muốn hành trì tụng Kinh một cách bài bản và đầy đủ hơn thì các Phật tử có thể thêm lời dẫn nhập. Sau phần dẫn nhập ta sẽ đọc bài Kinh tùy ý và sau đó kết thúc. Lời dẫn nhập tiếp nối sau khi chúng ta đã thắp nhang và vái lạy. Thông thường chúng ta hay đọc bài Nguyện Hương, sau đó đọc Chí Tâm Đảnh Lễ, tiếp theo một bài Kinh và kết thúc bằng bài Bát Nhã, bài Kệ Niệm Phật, Hồi Hướng, Sám hối và Quy y.

Chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng lời dẫn nhập và phần cuối Kinh cho bất kỳ bài Kinh nào, không nhất thiết phải câu nệ nội dung hay hình thức. Bởi căn bản, tất cả bài Kinh của Đức Phật đều có giá trị ngang nhau và đều có mục đích răn dạy Phật tử ở mọi mặt của cuộc đời. Căn cốt nhất là mỗi Phật tử có lòng thành, quyết tâm hành trì, có thể dành ra mỗi ngày một khoảng thời gian thì chắc chắn sẽ tạo ra được nhiều công đức để hóa giải những muộn phiền trong cuộc sống.

Nghi thức tụng Kinh Địa Tạng tại gia

1. Tụng ba lần Chú Tịnh Khẩu Nghiệp Chơn-Ngôn để cho nơi miệng mình được thanh tịnh:

“Tu rị, tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, ta bà ha”(3 lần)

2. Tụng ba lần Chú Tịnh Thân Nghiệp Chơn-Ngôn để cho thân được thanh tịnh, sạch sẽ:

“Tu đa rị, tu đa rị, tu ma rị, ta bà ha”(3 lần)

3. Tụng ba lần Chú An Thổ-Địa Chơn-Ngôn để cho nơi chỗ đất đai và nhà cửa của mình được thanh tịnh:

“Nam mô tam mãn đa, một đà nẫm, án độ rô, độ rô, địa vĩ, ta bà ha”(3 lần)

4. Tịnh Pháp Giới Chơn-Ngôn

Án lam, tóa ha (3 lần)

5. Tịnh Tam Nghiệp Chơn-Ngôn

Án ta phạ, bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám (3 lần)

6. Nguyện Hương

Nguyện đem lòng thành kính,
Gởi theo đám mây hương.
Phảng phất khắp mười phương.
Cúng dường ngôi Tam Bảo,
Thề trọn đời giữ đạo,
Theo tự tánh làm lành,
Cùng pháp giới chúng sinh,
Cầu Phật từ gia hộ,
Tâm Bồ Đề kiên cố,
Xa bể khổ nguồn mê,
Chóng quay về bờ Giác (1 lạy) O (O nghĩa là gõ chuông nếu có)!

7. Lễ Tán Phật

Đấng pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loài
Quy y tròn một niệm
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận (xá) O

8. Quán tưởng

Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười Phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y O

9. Đảnh lễ Tam Bảo

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai, thập phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trụ Tam Bảo. ( 1 lạy ) O

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta bà Giáo chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. ( 1 lạy ) O

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. ( 1 lạy ) O

10. Tán lư hương

Lư hương vừa bén chiên đàn
Khói bay nghi ngút muôn vàn cõi xa
Lòng con kính ngưỡng thiết tha
Ngưỡng mong chư Phật thương mà chứng cho
Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần)

11. Chú Đại Bi

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần )

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.
Nam mô a lị da bà lô kiết đế thước bát ra da.
Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.
Nam mô tất kiết lật đỏa y mông, a lị da bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì, hê lị ma ha bàn đà sa mế. Tát bà a tha đậu thâu bằng a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê lô ca đế, ca ra đế, di hê lị. Ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê lị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xa da đế. Đà ra đà ra địa ri ni, thất phật ra da. Giá ra giá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ. Y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì địa rị sắc ni na. Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha, Ma ha tất đà dạ ta bà ha, Tất đà du nghệ thất bàn ra da, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư da ta bà ha, ta bà ma ha a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha.

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a lị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ ta bà ha. Án tất điện đô mạn đa ra bạt đà dạ, ta bà ha.

12. Bài tựa về Địa Tạng Bồ Tát

U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tặng Bổ Tát Ma ha tát.
Lạy Đức Từ Bi đại Giáo chủ !
“Địa” là dày chắc – “Tạng” chứa đủ.
Cõi nước phương Nam nổi mây thơm,
Rưới hương, rưới hoa, hoa vần vũ,
Mây xinh, mưa báu số khôn lường
Lành tất, trang nghiêm cảnh dị thường,
Người, Trời bạch Phật: Nhơn gì thế ?
Phật rằng : Địa Tạng đến Thiên đường !
Chư Phật ba đời đồng khen chuộng
Mười phương Bồ Tát chung tin tưởng
Nay con sẵn có thiện nhơn duyên
Ngợi khen Địa Tạng đức vô lượng:
Lòng từ do chứa hạnh lành
Trải bao sế kiếp độ sanh khỏi nàn,
Trong tay đã sẵn gậy vàng,
Dộng tan cửa. ngục cứu toàn chúng sanh,
Tay cầm châu sáng tròn vìn,
Hào quang soi khắp ba nghìn Đại Thiên.
Diêm Vương trước điện chẳng hiền,
Đài cao nghiệp cảnh soi liền tội căn.
Địa Tạng Bồ Tát thượng nhơn,
Chứng minh công đức của dân Diêm phù!

Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thạnh, Đại Từ, Bổn Tôn Địa Tạng Bổ Tát Ma ha tát. (câu cuối đọc 3 lần)

13. Văn phát nguyện

Kính lạy Đức Thế Tôn
Quy mạng mười phương Phật
Nay con phát nguyện rộng
Thọ trì Kinh Địa Tạng
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu ba đường khổ
Nếu có ai thấy nghe
Đều phát tâm Bồ đề
Hết một báo thân này
Sang qua cõi Cực Lạc
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! (3 lần)

14. Kệ khai Kinh

Pháp vi diệu rất sâu vô lượng
Trăm nghìn muôn ức kiếp khó gặp
Nay con thấy nghe được thọ trì
Nguyện hiểu nghĩa chơn thật của Phật.
Nam mô U minh Giáo chủ hoằng nguyện độ sanh
Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật,
Chúng sanh độ tận, phương chứng Bồ đề
Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh, Đại Từ, Bổn Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma ha tát (3 lần)

15. Tụng nội dung Kinh

Xem nội dung Kinh Địa Tạng tại đây: Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện trọn bộ

16. Bát Nhã Tâm Kinh

Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ ẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.

Xá Lợi Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá Lợi Tử ! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận, vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo, vô trí diệt vô đắc.

Dĩ vô sở đắc, cố Bồ đề tát đỏa, y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật y Bát nhã Ba la mật đa, cố đắc A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề.

Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị Đại thần chú, thị Đại minh chú, thị Vô thượng chú, thị Vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:

(Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha – đọc câu này 3 lần)

17. Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú

Nam-mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tì ca lan đế, a di rị đa, tì ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (3 lần).

Phật A Di Đà thân sắc vàng
Tướng tốt quang minh không ai bằng
Hào quang trắng uyển chuyển như Tu Di
Mắt Phật xanh biếc như nước bốn biển
Trong quang minh có vô số hoá Phật
Hoá Bồ Tát cũng nhiều vô biên
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh
Chín phẩm sen vàng lên bờ giác.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Nam Mô A Di Đà Phật. (108 lần)
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (3 lần)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.(3 lần)
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (3 lần)

18. Sám Thập Phương

Mười phương chư Phật ba đời
Di Đà bậc nhất chẳng rời quần sanh
Sen vàng chín phẩm sẵn dành
Oai linh đức cả đã dành vô biên
Nay con dâng tấm lòng thiền
Quy y với Phật sám liền tội căn
Phước lành con có chi chăng
Ít nhiều con cũng quyết rằng về Tây
Nguyện cùng với bạn tu đây
Tuỳ thời cảm ứng hiện ngay điềm lành
Biết giờ biết khắc rõ rành

Lâm chung tận mặt cảnh lành Tây phương
Thấy nghe chánh niệm chơn thường
Vãng sanh Lạc quốc đồng nương sen vàng
Hoa nở thấy Phật rõ ràng
Thoát vòng sanh tử độ an muôn loài
Phiền não vô biên thệ dứt trừ
Pháp môn tu học chẳng còn dư
Chúng sanh nguyện độ bờ kia đến
Phật đạo cùng nhau chứng trí nhứ
Hư không cõi nọ dầu cùng
Nguyện trên còn mãi chẳng cùng chẳng thiên
Không tình cùng có đồng nguyền
Trí mầu của Phật đồng viên đồng thành

19. Sám Phổ Hiền

Nay con lại nguyện tu hành,
Phổ Hiền nguyện lớn sẵn dành mười môn:
Một là nguyện lạy Thế Tôn
Hiện thân trước Phật hết lòng kính tin
Hai khen Phật đức rộng thinh
Lời hay tiếng tốt tận tình ngợi ca
Ba thời sắm đủ hương hoa
Tràng phan bảo cái dưng ra cúng dường
Bốn vì mê chấp lầm đường
Tham sân nghiệp chướng con thường sám luôn
Năm suy công đức vàn muôn
Của Phàm của Thánh con đồng vui ưa
Sáu khi Phật chứng thượng thừa
Pháp mầu con thỉnh đã vừa truyền trao.
Bảy lòng chẳng chút lảng xao
Cầu xin chư Phật chớ vào vô dư
Tám thường tu học Đại thừa
Bao giờ bằng Phật mới vừa lòng con
Chín thề chẳng dám mỏi mòn
Dắt dìu muôn loại đều tròn pháp thân
Mười đem tất cả công huân
Mọi loài cùng hưởng, khắp trần cùng vui
Mười điều nguyện lớn nguyện rồi
Nguyện về Cực Lạc nguyện ngồi tòa sen.

20. Hồi hướng

Tụng kinh công đức thù thắng hạnh
Vô biên thắng phước giai hồi hướng
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sinh
Tốc vãng vô lượng quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ
Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.
Nguyện sinh Tây Phương Tịnh độ trung
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu
Hoa khai kiến Phật ngộ Vô sinh
Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhất thiết
Ngã đẳng dữ chúng sinh
Giai cộng thành Phật đạo.

21. Phục nguyện

A Di Đà Phật thường lai hộ trì, linh ngã thiện căn, hiện tiền tăng tấn, bất thất tịnh nhơn, lâm mạng chung thời, thân tâm chánh niệm, thị thính phân minh, diện phụng Di Đà, giữ chư thánh chúng, thủ chấp hoa đài, tiếp dẫn ư ngã. Nhứt sát na khoảnh, sanh tại Phật tiền, cụ Bồ Tát đạo, quảng độ chúng sanh đồng thành chủng trí.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới, Đại Từ, Đại Bi, A Di Đà Phật (1 lạy)

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (1 lạy)

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới, Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát, Nhất Thiết Hiền Thánh Chúng, Chư Thượng Thiện Nhân (1 lạy)

22. Tam Tự Quy Y

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng (1 lạy)

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ Kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lạy)

Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại (1 lạy)

II. Trì Chú

Người Phật tử trì Chú để được chư Phật và chư Bồ Tát trợ duyên, tiêu trừ tà ác và gặp được điều lành. Như: Trì Chú “Tiêu tai kiết tường” để tiêu trừ hoạn nạn, tai chướng; trì Chú “Lăng Nghiêm”: để phá trừ ma chướng và nghiệp báo nặng nề hay trì Chú “Chuẩn Đề” để trừ tà diệt quỷ…

Song nhiều Phật tử tại gia bận rộn với cuộc sống gia đình cho nên thường trì Chú Đại Bi và Thập Chú, đây là những Chú ngắn và dễ hiểu. Khi trì Chú, các Phật tử cần phải giữ thái độ trang nghiêm, vệ sinh cá nhân sạch sẽ, trang phục chỉnh tề và đặc biệt trong suốt quá trình trì Chú, cần phải thành tâm mà khấn nguyện.

Các Phật tử nên đặt ra mục tiêu mình sẽ trì Chú nào và trì bao nhiêu Biến và sau đó sử dụng hạt tràng chuỗi 18 hoặc 108 hạt để đếm. Các Phật tử có thể tiến hành trì Chú ở bất cứ đâu như trên xe, trên giường ngủ, phòng khách và trang phục cũng có thể linh hoạt. Duy chỉ khi đứng trước bàn thờ Phật thì nhất thiết phải trang nghiêm, thanh tịnh, trì Chú trong chánh niệm.

Cũng như tụng Kinh, trì Chú một cách bài bản nhất cũng cần phải có lời dẫn nhập và phần kết thúc. Phần dẫn nhập, các Phật tử có thể chỉ tụng Pháp Giới, tụng Khẩu Nghiệp hoặc tụng Tam Nghiệp rồi sau đó đọc Nam Mô quan Thế Âm Bồ Tát, Nam Mô Đại Thượng Quan thế Âm Bồ Tát. Sau phần dẫn nhập chúng ta sẽ tiến hành trì Chú. Trì Chú xong cũng kết thúc bằng một bài Hồi Hướng bất kỳ và lời cầu nguyện được vãng sinh tịnh độ, tùy theo sở nguyện của mỗi người.

Điều quan trọng nhất là khi trì Chú là các Phật tử phải chuyển hóa được tâm thức của mình để loại bỏ mọi tạp niệm trần tục thì những lời Chú mang lại mới thật sự hiệu quả và viên mãn.

Nghi thức trì tụng Chú Đại Bi tại nhà

1. Tụng ba lần Chú Tịnh Khẩu Nghiệp Chơn-Ngôn để cho nơi miệng mình được thanh tịnh:

“Tu rị, tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, ta bà ha”(3 lần)

2. Tụng ba lần Chú Tịnh Thân Nghiệp Chơn-Ngôn để cho thân được thanh tịnh, sạch sẽ:

“Tu đa rị, tu đa rị, tu ma rị, ta bà ha”(3 lần)

3. Tụng ba lần Chú An Thổ-Địa Chơn-Ngôn để cho nơi chỗ đất đai và nhà cửa của mình được thanh tịnh:

“Nam mô tam mãn đa, một đà nẫm, án độ rô, độ rô, địa vĩ, ta bà ha”(3 lần)

4. Tịnh Pháp Giới Chơn-Ngôn

Án lam, tóa ha (3 lần)

5. Tịnh Tam Nghiệp Chơn-Ngôn

Án ta phạ, bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám (3 lần)

6. Nguyện Hương

Nguyện đem lòng thành kính,
Gởi theo đám mây hương.
Phưởng phất khắp mười phương.
Cúng dường ngôi Tam Bảo,
Thề trọn đời giữ đạo,
Theo tự tánh làm lành,
Cùng pháp giới chúng sinh,
Cầu Phật từ gia hộ,
Tâm Bồ Đề kiên cố,
Xa bể khổ nguồn mê,
Chóng quay về bờ Giác (1 lạy) O (O nghĩa là gõ chuông nếu có)!

7. Đảnh Lễ

Chí Tâm Đảnh Lễ:

Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai, thập phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trụ Tam Bảo. ( 1 lạy ) O

Chí Tâm Đảnh Lễ:

Nam mô Ta bà Giáo chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. ( 1 lạy ) O

Chí Tâm Đảnh Lễ:

Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. ( 1 lạy ) O

Kính lạy đức Thế tôn,
Quy y các Phật đà,
Nay con phát đại nguyện
Trì tụng chú Đại Bi,
Trên trả bốn ơn nặng,
Dưới giúp ba đường khổ.
Những người thấy, nghe được
Đều phát tâm bồ-đề,
Thực hành hạnh trí huệ,
Tập hợp mọi phước đức
Báo thân này kết thúc,
Đồng sanh cõi cực lạc.

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

Phật pháp tuyệt diệu,
Cực kỳ cao xa,
Trăm ngàn vạn kiếp
Khó mà gặp được.
Nay con thấy nghe,
Lại được thọ trì
Nguyện cầu thấu hiểu
Ý thật của Phật.

Kính nghe

Đấng viên thông giáo chủ,
Vẻ từ ái trăng tròn.
Hầu Di Đà nơi
Cực lạc phương Tây,
Giúp Thích Ca cõi Ta bà uế trược.
Ở trên núi báu lưu ly
Ngự giữa sen hồng nghìn cánh,
Quá khứ là Chánh pháp minh vương,
Hiện nay là Quán âm tự tại,
Ba mươi hai ứng rộng độ quần sinh,
Bảy nạn, đa cầu, nhiều phương ứng vật.
Sức mầu thù thắng
Tán thán khôn cùng.
Ngưỡng trông đức cả từ bi
Rũ lòng thương tưởng.

Hôm nay ngày … tháng … năm … Đệ tử … quy đầu Tam bảo, trì tụng chú Đại Bi, hồi hướng công đức cầu nguyện cho bản thân, cho thân nhân, cho chúng sinh, tất cả cùng được thành tựu đại bi thắng phước. Cúi mong Phật đức từ bi không thể nghĩ bàn, ban ơn gia hộ.

Nam mô Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát.

Cúi lạy Quán âm đại bi chủ,
Nguyện lực sâu dày tướng hảo thân.
Nghìn tay trang nghiêm khắp hộ trì.
Nghìn mắt sáng ngời soi muôn nẻo.
Mật ngữ phô bày trong thật ngữ,
Bi tâm khơi dậy giữa vô tâm.
Khiến con sớm trọn các mong cầu,
Vĩnh viễn diệt trừ bao tội chướng.
Long thiên thánh chúng thường gia hộ.
Trăm nghìn tam muội trọn huân tu.
Thọ trì, thân con quang minh tràng.
Thọ trì, tâm con thần thông tạng.
Rửa sạch trần lao nương biển nguyện,
Siêu chứng bồ đề phương tiện môn.
Con nay xưng tụng, thề quy y
Sở nguyện như lòng thảy trọn đủ.
Nam mô Đại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con chóng thông hết thảy pháp.
Nam mô Đại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm chứng mắt trí huệ.
Nam mô Đại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con chóng độ hết muôn loài.
Nam mô Đại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm trọn phương tiện khéo.
Nam mô Đại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con chóng lên thuyền bát-nhã.
Nam mô Đại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm vượt qua bể khổ.
Nam mô Đại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con chóng tròn giới định đạo.
Nam mô Đại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm lên đỉnh niết bàn.
Nam mô Đại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con chóng đến nhà vô vi.
Nam mô Đại bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm đồng thân pháp tánh.
Nguyện con nhìn núi đao,
Núi đao tự gãy đổ.
Nguyện con nhìn vạc dầu,
Vạc dầu tự khô cạn.
Nguyện con nhìn địa ngục,
Địa ngục tự tiêu diệt.
Nguyện con nhìn ngạ quỷ,
Ngạ quỷ tự no đủ.
Nguyện con nhìn tu la,
Ác tâm tự dập tắt.
Nguyện con nhìn súc sanh,
Tự chứng thành đại trí.

8. Chú Đại Bi

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần )

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.
Nam mô a lị da bà lô kiết đế thước bát ra da.
Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.
Nam mô tất kiết lật đỏa y mông, a lị da bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì, hê lị ma ha bàn đà sa mế. Tát bà a tha đậu thâu bằng a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê lô ca đế, ca ra đế, di hê lị. Ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê lị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xa da đế. Đà ra đà ra địa ri ni, thất phật ra da. Giá ra giá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ. Y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì địa rị sắc ni na. Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha, Ma ha tất đà dạ ta bà ha, Tất đà du nghệ thất bàn ra da, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư da ta bà ha, ta bà ma ha a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha.

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a lị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ ta bà ha. Án tất điện đô mạn đa ra bạt đà dạ, ta bà ha.

(Trì tụng 3 lần, 7 lần, 21 lần, 49 lần hay 108 lần… bao nhiêu lần tùy ý).

9. Vãng Sinh Tịnh Độ Thần Chú

Nam-mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tì ca lan đế, a di rị đa, tì ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (Trì tụng 3 lần, 7 lần, 21 lần, 49 lần hay 108 lần… bao nhiêu lần tùy ý).

Phật A Di Đà thân sắc vàng
Tướng tốt quang minh không ai bằng
Hào quang trắng uyển chuyển như Tu Di
Mắt Phật xanh biếc như nước bốn biển
Trong quang minh có vô số hoá Phật
Hoá Bồ Tát cũng nhiều vô biên
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh
Chín phẩm sen vàng lên bờ giác.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Nam Mô A Di Đà Phật. (108 lần)
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (3 lần)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.(3 lần)
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (3 lần)

10. Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú

Nẳng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẩm, Á bát ra để, hạ đa xá ta nẳng nẩm, Ðát điệt tha.
Án, khê khê, khê hế, khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca thất rị duệ, ta phạ ha. (Trì tụng 3 lần, 7 lần, 21 lần, 49 lần hay 108 lần… bao nhiêu lần tùy ý).

11. Hồi hướng

Nguyện ngày an lành, đêm an lành,
Đêm ngày sáu thời thường an lành,
Tất cả các thời đều an lành,
Nguyện đức Từ bi thường gia hộ.
Nguyện tiêu ba chướng, trừ phiền não,
Nguyện chơn trí huệ thường sáng tỏ,
Nguyện bao tội chướng thảy tiêu trừ,
Kiếp kiếp thường tu bồ tát đạo.
Nguyện sanh cực lạc cảnh phương Tây,
Chín phẩm hoa sen là cha mẹ,
Hoa nở thấy Phật, chứng vô sanh,
Bất thối bồ tát là bạn hữu.
Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.

12. Tam Tự Quy Y

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng (1 lạy)

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ Kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lạy)

Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại (1 lạy)

3. Niệm Phật

Niệm Phật là tưởng nhớ đến những tấm gương sáng như Đức Phật và chư vị Bồ Tát để chuyển hóa thân tâm. Khi niệm Phật, Phật tử niệm danh bất cứ Đức Phật nào cũng đều nhận được công đức vô lượng vô biên. Bởi vì Đức Phật nào cũng đủ cả 10 hiệu, đồng một tâm toàn giác, từ bi vô lượng, phúc trí vô biên và lòng thương chúng sinh vô cùng tận.

Phật tử thường niệm Tam thế Phật: Niệm Đức Phật Thích Ca Mâu Ni; niệm đức Phật A-Di-Đà và niệm đức Phật Di Lặc, đây là những Ngài gần gũi và liên quan trực tiếp đến những sở nguyện của con người.

Khi tiến hành niệm Phật, cũng tương tự như Trì Chú, Phật tử phải hoàn toàn từ bỏ tạp niệm, thành tâm và khấn nguyện. Các Phật tử có thể niệm Phật trong tư thế thiền là tốt nhất. Thời gian và không gian hay hình thức niệm to, niệm nhỏ, niệm nhiều, niệm ít… đều có thể tùy vào hoàn cảnh của từng người mà linh hoạt sao cho phù hợp.

Nếu như các Phật tử niệm Phật tiếp theo khi đang hành trì tụng Kinh và trì Chú thì phần dẫn nhập chúng ta không cần nhắc lại, mà chỉ thêm phần Hồi Hướng. Còn nếu chúng ta đi vào niệm Phật luôn thì chỉ cần đọc bài A Di Đà thân Kim Sắc hoặc bài Chúng thích tử kiền thiền xưng tán Đức Di Đà rồi sau đó đi vào niệm Phật luôn. Các Phật tử nên chú ý đến thời lượng mặc định khi niệm Phật rồi sau đó tiến đến kết thúc bằng một bài Hồi Hướng bất kỳ và cầu nguyện Phật tùy theo ý nguyện của mỗi người.

Tụng Kinh, trì Chú và niệm Phật rất cần thiết cho các Phật tử trên con đường tu học. Nếu các Phật tử biết cách thực hiện đúng các nghi lễ, biết vận dụng tâm hành trì và hành trì một cách quyết tâm trong chánh niệm thì công đức và phúc báu đạt được sẽ là vô biên, vô lượng để từ đó hóa giải được mọi đau khổ trong cuộc đời muôn vạn kiếp.

Tâm Hướng Phật!

Bài viết cùng chuyên mục

Nghi thức niệm Phật hàng ngày tại nhà quý Phật tử nên biết

Định Tuệ

Nghi thức tụng kinh A Di Đà đầy đủ, chuẩn nhất

Định Tuệ

Cách hồi hướng công đức cho cha mẹ tăng thêm phước báo

Định Tuệ

Nghi thức trì tụng Kinh Dược Sư cầu bình an, giải trừ tật bệnh

Định Tuệ

Cách hồi hướng công đức cho oan gia trái chủ, tiêu trừ bệnh tật

Định Tuệ

Nghi thức sám hối nghiệp chướng – Kinh Kim Quang Minh

Định Tuệ

Nghi thức hồng danh sám hối tại nhà đầy đủ Phật tử nên biết

Định Tuệ

Phát nguyện Phổ Hiền – Pháp môn dễ tu được vô lượng công đức

Định Tuệ

Nghi thức phóng sanh PDF – HT Thích Nhật Từ biên dịch

Định Tuệ

Viết Bình Luận