Tâm Hướng Phật
Image default
Lời Phật Dạy

Đức Phật dạy phương pháp điều trị bệnh tật

Cuộc đời Đức Phật trải qua ít nhất 3 lần bạo bệnh. Trong những cơn đau bệnh, đức Phật vẫn chính niệm tỉnh giác, an nhiên tự tại, không hề than vãn hay có sự hiện khởi của tâm sân. Đức Phật dạy: “Dầu thân có đau đừng để tâm đau.”

1. Bậc Thánh nhân chỉ có “bệnh” không có “bệnh khổ”

Lần đầu Đức Phật ngã bệnh là trong mua an cư tại Vesālī tại làng Beluva: “Trong khi Thế Tôn an cư mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, những cảm thọ khốc liệt gần như chết tiếp diễn. Ở đây, Thế Tôn chính niệm, tỉnh giác, không có than vãn” – trích Kinh Tương Ưng Bộ, II, Nxb. Tôn Giáo.

Lần khác khi Đức Phật ở thành Vương-xá, Ngài lâm trọng bệnh, nhưng sau khi nghe tôn giả Maha Cunda trùng tụng thất giác chi thì bệnh tình của Thế Tôn được đoạn diệt. Lần bệnh cuối cùng, có thể nói là trầm trọng nhất, Thế Tôn cảm thọ gần như đến chết, đi ngoài ra máu sau khi thọ dụng buổi cơm hiến cúng của người thợ rèn Cunda: “Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chính niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh” – trích Kinh Tương Ưng Bộ, II, Nxb. Tôn Giáo.

Đức Phật đã phân chia bệnh thành 2 phạm trù căn bản: Thân bệnh và tâm bệnh. Và Ngài nói rằng, chúng ta có thể dễ bắt gặp người nào đấy tự nhận mình thân không bệnh một năm cho đến 100 năm, nhưng rất khó tìm được trong số những vị ấy, người không bị tâm bệnh dù trong một khoảnh khắc, trừ những vị đã đoạn tận các lậu hoặc.

Từ giác độ như những gì vừa nêu, chúng ta có thể thấy rằng bậc thánh (Đức Phật và hàng đa văn thánh đệ tử của Ngài) với chất liệu giác ngộ và giải thoát đã hiện chứng, trong tiến trình hiện hữu này, thánh nhân chỉ có thân bệnh mà không còn tâm bệnh như hàng phàm phu.

Hay nói cách khác thánh nhân chỉ có “bệnh”, chứ không có “bệnh khổ”. Qua đó chúng ta thấy được sự đối lập trong cách đối diện trước bệnh tật giữa thánh và phàm, một bên là an nhiên tiếp nhận, bên kia thì buông lời nguyền rủa với sự hiện khởi của sân tâm. Đó là ý nghĩa đích thực mà câu Kinh Pháp Cú 198 muốn truyền đạt:

“Vui thay chúng ta sống
Không bệnh giữa ốm đau
Giữa những người bệnh hoạn
Ta sống không ốm đau”

2. Cân bằng Thân – Tâm

Đức Phật dạy: “Ngươi hãy tâm niệm rằng sợ hãi, đau đớn đến mức nào rồi thì cũng vô thường”. Hoặc có lúc Ngài nói thế này: “Dầu thân có đau đừng để tâm đau”.

Thân nó đau là chuyện của nó nhưng mình để tâm mình bị dính chặt vào cơn đau thì sẽ đau gấp đôi, gấp ba. Mình cứ tiếp tục hơi thở vào ra chính niệm, bệnh tật sẽ thuyên giảm.

Đối với đạo Phật, khổ đau không phải chỉ là những thứ đớn đau trên thân xác và các bấn loạn trong tâm thần.

Theo quan điểm Phật giáo, một thân thể khỏe mạnh được thiết lập trên sự vận hành bình thường của cơ thể và sự hòa hợp trong mối quan hệ hữu cơ giữa các cơ quan bên trong. Khi một trong những cơ quan của cơ thể không vận hành hay suy nhược, bệnh tật sẽ phát sinh.

Chức năng của các bộ phận bên trong có thể hoạt động bình thường nhờ vào sự hòa hợp và cân bằng của bốn yếu tố trong thân là đất, nước, lửa và gió. Nếu sự cân bằng bị phá vỡ, các chức năng bình thường bị trục trặc, tình trạng bệnh sẽ xuất hiện. Chữa bệnh là giúp cơ thể phục hồi lại trạng thái cân bằng THÂN – TÂM, đưa toàn bộ cơ thể, chứ không chỉ phần bị tổn thương đang bệnh và gây nên đau đớn kia, trở lại trạng thái tốt nhất có thể.

3. Kinh Phật dạy về đối trị bệnh tật

Thân người vốn có bốn thứ bệnh là bệnh thuộc về địa, bệnh thuộc về thủy, bệnh thuộc về hỏa, bệnh thuộc về phong. Phong đại tăng thì khí thịnh, hỏa đại tăng thì thân thể nóng bức, thủy đại tăng thì thân lạnh, địa đại tăng thì thân lực mạnh. Từ bốn bệnh này mà sinh bốn trăm lẻ bốn bệnh. Địa thuộc thân, thủy thuộc miệng, hỏa thuộc mắt, phong thuộc tai. Hỏa đại giảm thì thân, mắt mờ.

Ba tháng mùa xuân thì lạnh tăng, ba tháng mùa hạ thì gió nhiều, ba tháng mùa thu thì nóng tăng, ba tháng mùa đông thì có gió và khí lạnh.

Vì sao mùa xuân lạnh tăng? Vì muôn vật đều sinh sôi nảy nở, nên có lạnh, nên lạnh tăng.

Vì sao mùa hạ gió nhiều? Vì muôn vật đơm hoa kết trái, âm dương hội tụ, nên gió nhiều.

Vì sao mùa thu nóng tăng? Vì muôn vật đến lúc chín, nên nóng tăng.

Vì sao mùa đông có gió và lạnh? Vì muôn vật cuối cùng đều suy tàn, nóng không còn, nên có gió và lạnh.

Vì sao thời gian từ tháng ba đến tháng bảy được nằm? Vì gió nhiều nên thân thể dãn nở. Vì sao thời gian từ tháng tám đến tháng hai năm sau không nên nằm? Vì lạnh tăng, nên thân thể co rút.

Ba tháng mùa xuân có hơi lạnh, không được ăn lúa mì, đậu, nên ăn những loại nấu chín như: cơm, pho-mát. Ba tháng mùa hạ gió nhiều, không được ăn lúa mì, đậu, khoai môn, nên ăn cơm, uống sữa, váng sữa. Ba tháng mùa thu có hơi nóng, không được ăn cơm, pho-mát, nên ăn gạo rang, mật ong, lúa nếp. Ba tháng mùa đông có gió và lạnh, âm dương hòa hợp, nên ăn cơm, đậu tằm, canh, pho-mát. Khi nằm có lúc gió khởi hoặc diệt, nóng khởi hoặc diệt, lạnh khởi hoặc diệt.

Có mười nhân duyên gây bệnh: Một, ngồi lâu không ăn; hai, ăn uống không tiêu; ba, lo buồn; bốn, mệt mỏi; năm, dâm dật; sáu, sân hận; bảy, nhịn đại tiện; tám, nhịn tiểu tiện; chín, nín ợ; mười, kiềm chế đánh rắm.

Phật dạy: “Có chín nguyên nhân làm cho người chưa đến lúc chết mà chết oan: Ăn thức ăn không nên ăn, ăn không biết tiết lượng, ăn uống không quen, không xuất sinh, nín nhịn, không giữ giới, gần gũi bạn xấu, vào thôn xóm không đúng lúc, không hành đúng pháp, không tránh những việc nên tránh.

1. Ăn thức ăn không nên ăn: Tức là thức ăn không hợp ý, cũng là thức ăn không hợp bốn mùa, khi đã no lại ăn nữa.

2. Ăn không biết tiết lượng tức là không biết tiết độ, ăn quá no.

3. Ăn uống không quen cũng gọi là ăn không đúng thời, như đến nước khác mà không biết phong tục, thức ăn chưa quen, ăn uống không tiêu.

4. Không xuất sinh: Thức ăn cũ không tiêu lại ăn thêm. Hoặc uống thuốc nôn ra chưa hết mà lại ăn tiếp.

5. Nín nhịn: Khi đại tiện, tiểu tiện không chịu đi liền. Khi muốn ợ hay hạ phong thì nín nhịn.

6. Không giữ giới: Phạm năm giới tại gia, trộm cắp, xâm phạm vợ người khác, bị quan quân bắt giam, hoặc bị hại, hoặc chết, hoặc đánh đập, bức ép đến chết, hoặc đói khát mà chết, hoặc được thả ra nhưng bị kẻ oán thù giết chết, hoặc sợ hãi lo buồn mà chết.

7. Gần gũi bạn xấu: Người khác làm ác liền đến bên họ. Vì sao? Vì không chịu xa lìa bạn xấu. Không nghĩ đến tâm xấu của ác tri thức mà gần gũi họ.

8. Vào thôn xóm không đúng lúc, không thực hành đúng pháp: Tức đi buổi sáng hoặc chiều đều bị quỉ mị tranh giành, gặp lúc quan lại truy bắt phạm nhân mà không tránh, vào nhà người khác mà thấy việc không nên thấy, nghe việc không nên nghe, phạm việc không nên phạm, nhớ việc không nên nhớ.

9. Không tránh những việc nên tránh như trâu dữ, ngựa dữ, chó điên, rắn độc, côn trùng, nước lụt, lửa cháy, hầm hố, xe cộ, dao gậy, người say, kẻ xấu…

Đó là chín nguyên nhân khiến người chưa đến lúc chết mà chết oan. Người trí nên nhận biết những nguyên nhân này, nên tránh xa. Khi tránh xa sẽ được hai phúc: Một là sống lâu, hai là được nghe những lời pháp quí báu và cũng được hành đạo lâu dài”.

Phật dạy: “Có bốn loại thức ăn: Tử phạn, tam bá mâu chước phạn, bì cách trùng sinh xuất phạn và tai phạn.

1. Tử phạn: Người tham mùi vị, khi ăn thịt liền suy nghĩ: ‘Thịt này đều là thịt của cha mẹ, anh em, vợ con, thân bằng quyến thuộc đời trước của ta, cũng từ việc này mà ta không thể thoát khỏi sinh tử!’. Hiểu được ý này thì liền dừng tham”.

2. Tam bá mâu chước phạn: Khi ăn nghĩ đến vị ngon liền nghĩ đến vô số tai họa. Nếu không nhớ đến mùi vị thì liền được thoát khỏi. Như người bị mâu đâm thì mất mạng, đã nghĩ lại nghĩ thì liền có biết bao khổ não.

3. Bì cách trùng sinh xuất phạn: Người nghĩ mùi vị ngon, cũng nghĩ đến tất cả việc lo buồn trong nhà, nhớ nghĩ tất cả muôn vật, thấu qua ý người khác mà sinh khởi muôn niệm.

4. Tai phạn: Một hành vi sinh tử đều là tai phạn. Như lửa đốt cháy vạn vật. Hành vi của con người đều gây hại cho thân đời sau. Giống như lửa dữ đốt cháy vạn vật, nên gọi là tai. Nghĩ đến người khác gọi là phạn.

Ăn thịt chúng sinh cũng giống như ăn thịt con mình. Súc sinh ở quá khứ đều là cha mẹ, anh em, vợ con của ta, nhiều không thể tính hết. Cũng có sáu trường hợp không được ăn thịt: Tự giết, bảo người giết, đồng lòng với kẻ giết, thấy giết, nghe giết, nghi vì ta mà giết. Không rơi vào sáu trường hợp này thì được ăn thịt. Nghi rơi vào sáu trường hợp này cũng không được ăn. Người không ăn thịt thì được phúc báo không sợ hãi.

Phật dạy: “Ăn nhiều sẽ phạm năm lỗi: Ngủ nhiều, bệnh nhiều, dâm nhiều, không thể tụng kinh, tham chấp thế gian. Vì sao? Vì người tham dâm chỉ biết hưởng sắc đẹp. Người sân hận chỉ biết ngang ngược. Người ngu si thì chỉ biết mùi vị thức ăn”.

Luật kinh ghi: “Người tham mùi vị, nếm vị mãi mà không được vị ngon”.

Phật dạy: “Một khi ăn là muốn đoạn sinh tử, nhưng nếu theo đó mà khởi tâm tham thì không thể hành đạo. Muốn được thiên nhãn thì phải biết từ đâu sinh và đi đến nơi nào. Người thường không nghĩ đến cái chết, chỉ biết ăn nhiều, nghĩ nhớ đến phụ nữ, thì đều rơi vào một trăm bốn mươi tật xấu. Người yểu mạng đều do dùng thức ăn. Người nào phạm mười điều ác thì đời sau không được làm người, đọa vào súc sinh. Khi làm người thì đói khát, thân thường chảy máu, lại thêm sân hận và tham ái”. Phật nói muốn có phúc lớn là bản thân phải chịu đói để nhường thức ăn cho người, mong họ giữ lại mạng sống, đời sau sẽ được nhiều thức ăn. Người nghèo hèn, sân hận cũng không bố thí, muốn bố thí cũng không được, chỉ biết buông tâm ý. Người tham dâm cũng không biết bố thí, chỉ biết buông lung tâm ý. Không phải vật của mình, dù một đồng cũng không được lấy. Người khởi tâm tham dục thì luống chịu khổ và tạo tội. Người tu đạo không lo buồn, lo thì thuận theo phẫn nộ, buồn thì thuận theo tham dục. Cái chết đến với chúng ta từng năm, từng tháng, từng ngày, từng giờ mà không biết, không sợ hãi, cũng không hành đạo, không giữ giời, chạy đông chạy tây, lo việc này việc nọ, như nhà cửa, nô-tì… chỉ tăng thêm khổ não tức là huân tập chủng tử súc sinh.

Phật dạy: “Sự nghiệp của con người ví như ong làm ra mật, hút lấy nhụy hoa, siêng năng gian khổ lâu ngày mới thành. Sau đó lại bị người đoạt mất, luống uổng chịu bao gian khổ mà không thể chu cấp cho bản thân. Người có niệm mong cầu thì đã lo lại thêm lo, không biết đói khát chỉ biết gian khổ gom chứa tiền của. Nhưng còn sống mà phải lo năm nhà phân chia, hoặc là gặp những việc không vừa ý như nước, lửa, trộm cắp, quan phủ, bệnh hoạn. Lúc vừa qua đời thì của cải thuộc về người khác. Thân đang mắc tội tại địa ngục, thống khổ không thể nói. Năm phần: nước cuốn trôi, lửa cháy, trộm cắp, quan phủ, anh em nghèo khó. Như thế vì sao lại không lo? Người không nhận biết năm phần lo này, thì mãi mãi thống khổ. Những buồn khổ này có vạn đầu mối, kết lại trong lòng, khiến lìa đạo xa pháp. Cách sống của con người là mua bán, nhưng được lợi không nên vui, tổn thất cũng không nên buồn. Vì tất cả đều là quả báo do nghiệp đời trước gây ra. Người đời hễ có tham thì không được lợi. Giả sử được của cải đầy một thiên hạ thì một mình dốc sức cũng không thể dùng hết, chết cũng không thể đem theo, chỉ làm tăng thêm kết sử, chỉ có khổ não, chỉ trồng nhân duyên xấu đời sau. Nhân duyên xấu như lửa đốt cháy tất cả. Chúng ta không tỏ ngộ, chẳng dám vọng tạo tác, chỉ biết tạo thì sẽ gây tội thêm khổ”.

Trích: phatgiao.org.vn!

Bài viết cùng chuyên mục

Phẩm thứ 42: Con ngộ sát cha – Hiền Ngu Nhân Duyên Kinh

Định Tuệ

Những lợi ích của việc trì tụng Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

Định Tuệ

Phẩm thứ 34: Thiết Đầu La Kiện Ninh– Hiền Ngu Nhân Duyên Kinh

Định Tuệ

Phẩm thứ 35: A Du Ca – Hiền Ngu Nhân Duyên Kinh

Định Tuệ

Phẩm thứ 36: Bảy lọ vàng – Hiền Ngu Nhân Duyên Kinh

Định Tuệ

4 nhân duyên làm con cái đầu thai vào cha mẹ theo quan điểm Phật giáo

Định Tuệ

Viết Bình Luận