HomeKiến ThứcPhương pháp quán thập nhị nhân duyên

Phương pháp quán thập nhị nhân duyên

Mười hai nhân duyên này liên quan mật thiết với nhau. Phương pháp quán 12 nhân duyên có thể chia làm hai phần: Quán lưu chuyển và quán hoàn diệt.

Phật giáo quan niệm rằng tất cả các pháp đều do duyên sinh. Vì cái này có mặt nên cái kia có mặt. Chúng vận hành tồn tại tương quan mật thiết với nhau qua mười hai móc xích tạo thành một vòng tròn khép kín đó là vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử.

Mười hai móc xích này là nhân tố cấu tạo hình thành các pháp hữu vi. Chúng cũng là nền tảng căn bản giúp con người đoạn trừ tất cả sự hiện hữu. Mười hai nhân duyên còn là sự khám phá độc đáo mới mẻ của đức Thế Tôn về sự vận hành của tâm thức trải qua ba giai đoạn: quá khứ, hiện tại, vị lai của một chúng sanh. Nương vào đó con người có thể hiểu được tâm ý của chính mình và sự vận hành của vạn pháp. Nhờ đó con người dễ dàng cắt đứt mối liên hệ giữa chúng, cắt đứt vòng sanh tử, thoát ly luân hồi. Nhưng thập nhị nhân duyên chỉ thật sự có giá trị đối với những ai biết biến nó thành hành động cụ thể, áp dụng vào cuộc sống thực tiễn. Ước mơ thoát khỏi sanh tử chỉ thành hiện thực đối với những ai luôn hoài bão và đem hết tâm lực chặt đứt mười hai móc xích oan khiên ấy.

Sao gọi là nhân duyên? Nhân là nguyên nhân, chỉ những vật chính nó làm nhân trực tiếp sanh ra vật khác, như hạt lúa làm nhân sanh ra cây lúa. Duyên là trợ duyên, chỉ cho những vật có tính cách trợ giúp trực tiếp hay gián tiếp cho vật khác được hình thành. Như phân, nước, ánh sáng, nhân công… là trợ duyên giúp cho hạt lúa được thành cây lúa. Vậy nhân duyên là chỉ cho các vật làm nhân cho nó mà cũng vừa là trợ duyên cho tất cả vật chung quanh nó.

Nhân duyên lại có nghĩa, các vật đều là nhân, các nhân đó duyên với nhau mà thành ra các vật khác. Như vôi, gạch, ngói… là nhân, các nhân này duyên với nhau mà thành ra cái nhà. Vì các pháp trùng điệp nhiều lớp làm duyên cho nhau mà thành ra vật thể này hay vật thể khác.

Vậy mười hai nhân duyên truyền nối nhau liên tục trong suốt ba đời, giống như một dây xích không có đầu mối, như một vòng lửa không biết đâu là khởi điểm. Như vậy, vô minh không phải là nguyên nhân đầu tiên của chuỗi liên kết đó, bởi vô minh cũng do duyên sinh. Vô minh là không sáng suốt, đó là những điều mê hoặc che lấp chơn tâm diệu tánh, không có sự soi sáng của trí tuệ. Nghĩa là trí tuệ vẫn hiện hữu nơi mỗi người nhưng vì bị vô minh ngăn che nên không thể chiếu sáng để thấy rõ bản chất của các pháp. Cũng như mặt trời bị mây che nên trời đất u ám. Mây tan, mặt trời lại chiếu sáng với ánh sáng vốn có của nó. Vô minh còn có tên thứ hai là si mê tức là sự không thông suốt hay không có tri kiến của bậc Chánh Giác. Do sự không thông suốt ấy, con người đã duy trì những quan điểm sai lầm, thấy vô thường cho là thường, xem đau khổ cho là thú vui, nhận giả cho là thật và nắm giữ các pháp ô nhiễm cho là thanh tịnh. Do đó, vô minh là một trong những cội rễ căn bản, là cội nguồn sanh ra tất cả các pháp ô nhiễm; tất cả những hành động bất thiện và tất cả những ý niệm sai lầm đều bắt nguồn từ vô minh. Bậc Cổ đức nhận chân ra được điều đó đã dạy:

“Nhân vô minh vọng tình nhiễm trước
Thọ, tưởng, hành, ý thức nghiệp duyên”

Đọc thêm: Thập nhị nhân duyên là gì? Ý nghĩa và nội dung của 12 nhân duyên

Mười hai nhân duyên này liên quan mật thiết với nhau. Phương pháp quán 12 nhân duyên có thể chia làm hai phần: Quán lưu chuyển và quán hoàn diệt.

1. Quán lưu chuyển

Quán lưu chuyển là quán sát trạng thái sanh khởi và lưu chuyển của mười hai nhân duyên. Sự quán sát này có ba loại:

a. Quán sát trạng thái sanh khởi của mười hai nhân duyên trong quá khứ xa xôi, từ vô thỉ.

Từ vô thỉ, vì vô minh vọng động, làm cho bản tâm thanh tịnh uẩn khuất, như mây che nên trăng mờ (Vô minh). Do Vô minh khiến các vọng động từ từ sanh khởi (Hành). Bởi vọng động sanh nên thành ra có tâm (Thức) và cảnh, đủ cả thế giới và chúng sinh (Danh sắc).

Trong thân chúng sinh có sáu Căn là chỗ của sáu Trần thường phản ảnh vào lục Nhập. Căn, trần thường tiếp xúc (Xúc) nhau sanh ra cảm thọ (Thọ). Nhân thọ sanh ra ưa thích (Ái). Vì ưa mới giữ (Thủ); Do đó mà có (Hữu) sanh (Sanh) và già, chết (Lão Tử).

Ðây là nói về trạng thái của thập nhị nhân duyên từ vô thỉ. Do vô minh vọng động, tạo tác mà có thế giới và chúng sinh. Rồi cứ như thế, tiếp tục sanh khởi cho đến ngày nay, và mãi mãi về sau v.v…

b. Quán sát trạng thái lưu chuyển của mười hai nhân duyên trong ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai.

Ðây là quán sát sự xoay vần của mười hai nhân duyên trong thời gian từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến vị lai. 12 nhân duyên cũng như sợi dây chuyền có mười hai vòng. Vòng này móc vào vòng kia, vòng kia móc vào vòng nọ, nối tiếp nhau không có mối manh, thông suốt cả ba đời: Quá khứ, hiện tại, vị lai.

Trong quá khứ do Vô minh và Hành (căn bản Vô minh) làm nhân, sinh ra quả hiện tại (tức thân đời này) là “thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ”.

Quả hiện tại ( tức thân đời này) tạo nhân trong hiện tại là “ái, thủ, hữu” (Chi mạt vô minh); Nhân hiện tại lại sẽ thành quả vị lai( thân đời sau) là “sanh, lão, tử.

Nói tóm lại, do mê hoặc (vô minh) nên tạo nghiệp (hành). Vì tạo nghiệp nên chịu quả khổ. Nhân chịu quả khổ, lại mê hoặc tạo nghiệp v.v… Nhân sanh quả, quả lại sanh nhân, nối tiếp trong ba đời, quanh quẩn trong sáu đường sanh tử luân hồi. Như cái bánh xe lăn tròn trên sợi dây không có điểm đầu hay cuối. Mười hai nhân duyên cũng vậy: Vừa chạy tới, vừa biến đổi, luôn luôn hoại và thành, thành và hoại… Liên tiếp trong ba đời: Quá khứ, hiện tại và tương lai.

c. Quán sát sự sanh khởi và lưu chuyển của mười hai nhân duyên trong một niệm của hiện tại.

Nếu lấy một khoảng thời gian ngắn trong hiện tại để quán sát, hành giả cũng có thể thấy được sự sanh khởi và lưu chuyển của mười hai nhân duyên:

Như khi đối cảnh, không rõ các pháp đều là lưu chuyển(Vô minh) mà khởi vọng niệm(Hành), phân biệt (Thức) các cảnh vật (Sắc)

Trần cảnh lại phản ảnh vào căn (Lục nhập), căn lại tiếp xúc (Xúc) với trần, sanh ra lãnh thọ (Thọ).

Nhân thọ sanh ra ưa muốn (ái), tìm cầu (thủ), do đó tạo ra các nghiệp (Hữu), rồi theo nghiệp thọ quả báo (sanh, lão, tử).

Phân tách ba pháp quán trên, hành giả sẽ rút ra những nhận xét sau đây: Trong mười hai nhân duyên, có hai nhóm làm nhơn và hai nhóm làm quả:

Một nhóm nhân quá khứ (gồm có vô minh và hành) và một nhóm nhân hiện tại (gồm có sanh, lão, hữu).

Về phía quả, thì có một nhóm quả hiện tại (gồm có thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ) và một nhóm quả vị lai (gồm có sanh, lão tử).

2. Quán hoàn diệt

Quán Toàn diệt là quán sát sự tiêu diệt của mười hai nhân duyên. Có hai cách quán:

a. Diệt Vô minh gốc rễ (Căn bản vô minh)

Trong phần quán sát trên, hành giả đã thấy rõ: Do vô minh mà có hành, do hành mà có thức v.v… Vậy thì bây giờ, nếu ta diệt vô minh, thì hành sẽ bị diệt, hành bị diệt thì thức cũng không có v.v… Hay nói một cách khác: Do “mê hoặc” nên tạo “nghiệp”, do tạo nghiệp nên mới chịu quả “khổ”. Vậy muốn hết khổ, lẽ tất nhiên là phải diệt nghiệp, muốn dứt nghiệp trước phải trừ vô minh.

Trừ căn bản vô minh có hai cách:

Ðối với các bậc Ðại Thừa Bồ Tát, vì thấy rõ thể tánh chân tâm do vô minh vọng động mà có thế giới chúng sinh, ngã và pháp, nên các Ngài dùng trí Bát nhã phá trừ “sinh tướng vô minh”, để trở lại với bản thể chân tâm. Khi đã ngộ được chân tâm rồi, thì tất cả sanh tử luân hồi đều hết. Như trong Bát nhã Tâm kinh có chép: “Ngài Quán tự tại Bồ Tát khi đi sâu vào trí Bát nhã Ba la mật đa rồi, thì thấy tất cả năm uẩn đều không, nên khỏi các điều khổ ách…”. Hay như trong kinh Lăng Nghiêm có chép: “Ðối với người tỏ ngộ được chơn tâm, thì mười phương thế giới đều tiêu hết”.

Ðối với người không thể phá trừ ngay được căn bản vô minh để trực ngộ chân tâm, thì phải lần hồi trải qua vô số kiếp tu hành. Khi đến địa vị Ðẳng giác, dùng trí Kim cang phá trừ được “sanh tướng vô minh”, mới chứng quả Diệu giác.

b. Diệt Vô minh ngành ngọn (Chi mạt vô minh)

Ðối với hàng phàm phu và Tiểu Thừa, căn cơ thấp hẹp, thì không thể trực tiếp phá trừ vô minh gốc rễ như hai bậc trên, mà chỉ có thể phá trừ vô minh ngành ngọn là “ái, thủ, hữu”. Khi ngành ngọn đã bị chặt rồi, thì gốc rễ dần dần bị tiêu diệt. Như bụi tre mà bị xắn hết cả măng, thì sẽ phải tàn rụi. Diệt trừ vô minh ngành ngọn cũng gồm hai phương diện.

Quán lý: Là dùng lý lẽ để nhận thấy rằng các pháp chỉ do nhân duyên hòa hợp mà sanh ra, chứ không có thật. Bởi không có thật, nên không nên tìm cầu chấp thủ. Ðã không chấp thủ, thì cũng không tham muốn. Nghĩa là bắt đầu quán “hữu”, rồi đến “thủ”, rồi cuối cùng là “ái”. Nếu ba cái nhân này không có, thì cái quả “sanh, lão, tử” cũng chẳng có.

Quán sự: Là y theo sự tướng mà quán sát rồi thực hành. Hành giả bắt đầu quán “ái” trước, rồi đến “thủ” và “hữu”. Kinh chép: “Hữu ái sinh ưu, hữu ái sinh úy, vô sở ái nhạo hà ưu hà úy?”. Nghĩa là: Bởi có tham muốn thì có lo sợ gì? Vì khi đối cảnh, sanh tâm tham muốn (ái), nên mới tạo tác ra các nghiệp (thủ), do đó phải chịu sanh tử luân hồi (hữu).

Bấy giờ, nếu đối cảnh không tham ưa (không ái), thì chẳng tìm cầu chấp thủ ( không thủ). Vì không chấp thủ nên chẳng có sanh tử luân hồi (không hữu). Cũng như trong kinh Lăng nghiêm Phật dạy: “..Chỉ khi các ông đối cảnh, không khởi vọng niệm phân biệt, thì tham, sân, si chẳng khởi; Tham, sân, si không khởi thì sát, đạo, dâm, vọng không sanh…”.

Tóm lại, mê hoặc hết (ái) thì nghiệp chẳng có (thủ), nghiệp không thì khổ chẳng còn (hữu). Trong bốn cách trừ vô minh, chỉ có pháp “quán sự” này dễ dàng và thiết thật nhất, lại hợp với căn cơ của người tu hành hiện tại.

3. Hiệu quả của pháp quán 12 nhân duyên

Hành giả sau khi thành tựu pháp quán 12 nhân duyên này, thì sẽ trừ được tâm si mê. Tâm này là nguyên nhân chính của khổ đau và luân hồi của chúng sinh. Ðức Phật thường bảo: “Sự khổ ở tam đồ chưa hẳn là khổ, chỉ có người thiếu trí huệ mới là khổ thôi”.

Xem thế thì đủ biết: Trừ được tâm si mê và làm cho trí huệ được phát chiếu là một điều quan trọng bậc nhất của kẻ tu hành. Hơn nữa, hành giả còn nhờ pháp quán mười hai nhân duyên này mà sẽ chứng được quả Duyên giác. Khi Phật chưa giáng sinh, cũng có nhiều vị tu hành nhờ quán sát sự sanh hóa của vũ trụ mà được ngộ đạo. Những vị ấy người ta thường gọi là Ðộc giác, nghĩa là tự nghiên cứu một mình mà được giác ngộ.

Ðến khi Phật giáng sinh, chỉ dạy pháp quán nhân duyên. Nhiều người y theo pháp quán này tu hành mà được giác ngộ, nên gọi là “Duyên giác” (nghĩa là những vị giác ngộ nhờ quán mười hai nhân duyên). Chỗ giải thoát của quả vị Duyên giác và A La Hán đều giống nhau, nhưng về trí huệ và thần thông thì quả Duyên giác cao hơn quả A La Hán.

Sau đây là một thí dụ về sự thành tựu pháp quán thập nhị nhân duyên của hai vị đại Ðệ tử của đức Phật Thích Ca: Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên.

Lược thuật theo kinh Nhân quả: Ở thành Vương xá, có hai người Bà la môn thông minh trí huệ, một người tên là Xá Lợi Phất và một người tên là Mục Kiền Liên. Hai người đều tu theo ngoại đạo, có trên một trăm Ðệ tử và có hứa hẹn với nhau rằng: Nếu ai nghe được pháp mầu trước, thì phải chỉ dạy lại cho người kia.

Một hôm, ông Xá Lợi Phất đi đường, nghe một Ðệ tử của Phật là Tỳ kheo A Xá Bà Kỳ, giảng giải về đạo lý nhân duyên. Ông ta tóm tắt lại trong một bài kệ như sau: “Cội gốc của tất cả pháp là nhân duyên sinh, không ai làm chủ. Nếu ai hiểu được pháp này, thì chứng được đạo chân thật”.

Khi nghe xong, ông Xá Lợi Phất liền xa lìa trần cấu, chứng được đạo quả thanh tịnh. Lúc trở về, ông Xá Lợi Phất giảng nói lại cho ông Mục Kiền Liên nghe. Ông này nghe xong, cũng chứng được đạo quả. Hai ông này liền đem 200 Ðệ tử của mình, đến xin Phật cho xuất gia làm Ðệ tử.

Tâm Hướng Phật/TH!

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

BÀI VIẾT LIÊN QUAN