HomeKiến ThứcQuán bất tịnh là gì? Quán thân bất tịnh để trừ tâm ái dục

Quán bất tịnh là gì? Quán thân bất tịnh để trừ tâm ái dục

Quán bất tịnh tức là quán sát một cách tỉ mỉ, cùng tột thân con người để nhận thấy rõ rằng nó là không trong sạch, như hầu hết con người đời đều lầm tưởng.

1. Quán bất tịnh là gì?

Từ thuở khai thiên lập địa đến nay, con người vẫn luôn mãi hoài đi tìm sự bất tử cho mình: nào là lên non tìm “kỳ trân dị thảo” để bào chế linh đơn, nào là tu luyện khổ hạnh để đắc đạo tiên nhân…Thế nhưng, thân người là giả tạm, thế gian là vô thường thì sự đến – đi, sự còn – mất là chuyện tất nhiên trong cõi Ta-bà. Đây là sự thật không thể chối cãi!

Người con Phật đôi khi cũng thao thức tầm cầu tuệ giác để tìm ra cho được một cái gì không sinh, không diệt trong dòng đời sinh diệt, bất tịnh, khổ đau, vô thường và vô ngã. Nói cách khác, cái tính bất sinh bất diệt đó thường được diễn tả qua ngôn ngữ Thiền tông như “bản lai diện mục”, “vô vị chân nhân”, “chủ nhân ông”, “chân tâm Phật tánh”…

Khi xưa, vua Trần Thái Tông đã rất thao thức muốn thấu ngộ được “con người thật” này. Thế nhưng, “con người thật” đó phải tìm ở đâu? Thiền sư Lâm Tế nói rằng: “Nó ở ngay trên đống thịt đỏ au, ra vào trước mắt mọi người”. Đống thịt đỏ au (tức thân xác con người) đó được vua Thái Tông cực tả như sau:

“Bộ xương khô cài hoa điểm ngọc, túi da hôi ướp xạ xông lan. Cắt lụa là bọc thân máu mủ, xâu tràng hoa đeo túi phân tro… trang điểm bề ngoài bề trong uế trược (…). Những mong sống kiếp của thông già, nào biết tứ chi như nhà dột. Hồn phách tạm về lối quỷ, thi hài còn để cõi người. Tóc lông răng móng chửa kịp tiêu, đờm dãi bọt hơi đà thấy ứa. Rửa nát thì chảy ròng máu mủ, tanh hôi thì rinh đất rinh trời. Đen đúa mắt chẳng dám nhìn, xanh lè thật là đáng sợ. Bất luận nghèo giàu, tất cả đều chết. Để ở trong nhà, ruồi bu bọ nguậy, vứt ra ngoài đường thì quạ rỉa chó ăn. Người đời thì bịt mũi mà qua, con hiếu phải lấy nong mà đậy… Thu thập thịt xương, chôn hài cốt. Quan tài phó sao trời đốm ruộng, mồ mả chôn muôn dặm hoang sơn. Ngày xưa tóc mượt má hồng, ngày nay tro xanh xương trắng…”.

(Trích Nói Về Sắc Thân trong Khóa Hư Lục, vua Trần Thái Tông ngự soạn).

Trong kinh Tương Ưng Bộ tập II, thiên Nhân Duyên, chương I, Tương Ưng Nhân Duyên, phẩm Phật-đà, phần Phân Biệt, có đoạn nói về già và chết:

“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là già và chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay bộ loại chúng sanh khác; bị già, bị yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ tàn lụi, các căn chín muồi. Đấy gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay bộ loại chúng sanh khác; sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Đây gọi là chết. Như vậy, này các thầy Tỳ-kheo, đây gọi là già và chết”.

Qua hai trích dẫn trên về sự thật bất tịnh của sắc thân con người, chúng ta có suy nghĩ gì?

Thứ nhất, ước mong đi tìm một con người “bất tử” không già, không chết là một phi lý, đi ngược lại với chân lý uyên nguyên vạn hữu. Đây đồng nghĩa với quan niệm thường còn – hữu ái, tham luyến sự sống trường tồn.

Thứ hai, ước mong chấm dứt sự sống, là không còn gì cả, cát bụi trả về cát bụi vì nhân đã quá nhàm chán, nhờm gớm sự ô uế của thân này; tức là hình thức của chấp đoạn diệt – vô hữu ái, tham luyến sự sống không có sự hiện hữu của xác thân.

Thứ ba, vượt ra khỏi nhị biên của thường – đoạn, người con Phật chân chính mượn thân tứ đại làm phương tiện độ sinh, mong muốn (dục như ý túc) vượt thoát sinh tử, chạm đến bản thể bất sinh bất diệt, trú Niết-bàn với tuyên ngôn bất hủ: “Sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, kiếp này là kiếp cuối cùng, nay không còn trở lui lại trạng thái này nữa”.

Đến với đạo Phật, chúng ta nên là một hành giả (thay vì một học giả) để tự thân chứng nghiệm pháp lạc hạnh phúc trên lời Phật dạy. Quán thân bất tịnh là một phần nhỏ trong sự quán thân niệm xứ (Tứ niệm xứ), bên cạnh các pháp quán hơi thở, quán cửu tưởng, quán oai nghi… Khi hành giả sâu sắc nhận chân pháp quán ngay nơi chính bản thân, tự khắc sẽ mang lại nhiều kết quả trên con đường tu tập. “Ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng” là vậy!

“Đời người ngắn ngủi vô thường
Chỉ trong giây phút, chỉ từng sát-na
Thở vào mà chẳng thở ra
Thân người lại hóa thân ma không hồn…
Ai người thức tỉnh hiểu ra
Đừng lo những chuyện xa hoa bên ngoài
Tu tâm sửa tánh dồi mài
Ăn chay niệm Phật ngày ngày công phu
Giữ gìn ba nghiệp tịnh tu
Giới hương thơm ngát thiên thu vẫn còn”… (TT. Thích Chân Tính)

Quán bất tịnh là gì? “Bất tịnh” nghĩa là không sạch sẽ, trong lành. Quán bất tịnh tức là quán sát một cách tỉ mỉ, cùng tột thân con người để nhận thấy rõ rằng nó là không trong sạch, như hầu hết con người đời đều lầm tưởng.

Chân tâm con người vẫn là tâm thanh tịnh, nó nằm sẵn trong xác thân bất tịnh của mỗi chúng sanh. Nhưng vì người đời bị phiền não tham, sân, si lôi cuốn, phỉnh gạt, nên say mê quay cuồng đeo đuổi theo ngũ trần, lục dục. Không thấy được bản tâm thanh tịnh. Muốn chặn đứng sự tham đắm quay cuồng ấy, đức Phật dạy phải Quán Bất Tịnh. Bởi Quán bất tịnh là diệu pháp để đối trị lòng tham sắc dục.

Phép quán này thành tựu thì hốt nhiên thấy rõ được sự ô uế trong tinh huyết của kẻ nam người nữ. Đây là phương tiện để đối trị vượt qua cửa ải dâm dục. Mọi sự khổ não trong thế gian đều khởi sinh từ ái dục. Tâm tham ái nếu không thể dứt trừ thì khi đối diện với sắc dục ắt phải hồn xiêu phách tán; Nước ái luyến từ trong xương rỉ chảy ra mãi; Lửa tham dục từ trong đôi mắt cháy phừng lên dữ dội. Tâm hùng hổ, ý bừng bừng, không việc gì không dám làm; Khiến cho nghiệp ác càng thêm nặng, tội chướng càng thêm sâu.

Lúc bình thường luôn quan tâm đến lễ nghĩa, giữ gìn danh thơm tiếng tốt. Đến lúc đối diện với sắc dục chỉ trong chốc lát đã không còn màng đến chuyện liêm sỉ. Khi ấy dù quỷ thần cũng không nể sợ, huống chi những chuyện danh tiếng, lễ giáo… làm sao có thể ràng buộc được? Mênh mang trong cõi đời ô trược, tù ngục giam cầm ngày một nhiều hơn. Những lời răn dạy ân cần thương xót của các bậc thánh hiền, chỉ sợ rằng không còn chút tác dụng nào.

May mắn thay vẫn còn có Giáo pháp của đức Như Lai, rộng mở pháp môn diệt trừ tham dục. Như mưa cam lồ tưới mát xuống cõi trần; Giúp người dùng phép quán bất tịnh có thể khiến cho lửa dục hóa thành băng giá. Khi ấy dù có tiên nữ giáng trần cũng chỉ xem như kẻ ăn mày cùi hủi gớm ghiếc; Huống chi là những phụ nữ phàm tục chốn thế gian, vốn chỉ là một cái túi da bọc xương thịt.

Không cần phải luận bàn về nhân quả, cũng không cần đặt ra hình luật nghiêm khắc; Chỉ quán chiếu thấy hết được những điều ô uế nhơ nhớp thì con ma dâm dục sẽ không còn dám đấu tranh cùng ta nữa. Phép quán này được thành tựu sẽ nhổ bật tận gốc rễ dâm dục ái luyến.

Quán bất tịnh là gì? Quán thân bất tịnh để trừ tâm ái dục

2. Ý nghĩa của việc quán thân bất tịnh

Có người sẽ hỏi: Tại sao trong khi cuộc đời đã xấu xa, đau khổ, mà Đức Phật lại còn vạch thêm cho người ta thấy cái dơ bẩn nhớp nhúa của thân người làm gì?

Tại sao không cho người đời có cái ảo ảnh rằng thân người là đẹp đẽ, trong sạch để họ có thể tự an ủi và quên lãng một phần nào cái xấu xa của kiếp người, mà lại cho làm đời thêm chán chường tuyệt vọng khi nhận rõ cái thân bất tịnh của mình?

Trước tiên, chúng ta phải nhận định dứt khoát rằng: Đạo Phật là “Đạo như thật”, đạo của chân lý, Đức Phật không muốn lừa phỉnh chúng sinh, lấy xấu làm tốt, lấy dở làm hay, hoặc trái lại.

Thứ đến, chúng ta đừng bao giờ quên rằng: Chính cái vọng tưởng rằng thân người là thơm sạch, đẹp đẽ gây tai họa lớn cho người đời. Vì lầm tưởng thân người có giá trị quý báu, nên đối với chính thân mình thì người ta nâng niu, cưng dưỡng, tìm hết mọi cách, không từ một hành vi xấu xa nào để nuôi dưỡng phụng sự nó, đối với thân người khác giống thì say mê, đắm đuối, tìm mọi cách để chinh phục, làm của riêng của mình. Vì sự đánh lầm giá trị, tham đắm sắc thân giả dối ấy mà cuộc đời chung cũng như cuộc đời riêng, đã xấu xa lại càng thêm xấu xa, đã đen tối lại càng thêm đen tối.

Lại nữa, khi đã đánh lầm giá trị lấy xấu làm đẹp, lấy dở làm hay, lấy thúi làm thơm, thì tất nhiên cái đẹp cái hay, cái thơm chân thật sẽ bị bỏ rơi, không còn được biết và dùng đến. Loài người vì đã tham đắm cái xác thân nhỏ hẹp, xấu xa, ngắn ngủi, mà bỏ mất cái tâm rộng lớn đẹp đẽ trường tồn.

Vậy Đức Phật khi đã xé tan cái màn ảo ảnh bao bọc xác thân và làm lộ nguyên hình cái xác thân bất tịnh là nhằm mục đích hướng tầm mắt và sự hoạt động của kẻ tu hành vào cái giá trị chân thật đẹp đẽ, rộng lớn và trường tồn hơn.

Nhưng chúng ta cũng đừng nên kết luận một cách sai lầm rằng: cái thân nầy đã là bất tịnh, thối tha, thì hãy diệt ngay nó đi, như năm chục vị Tỳ kheo đã làm, sau khi nghe Phật thuyết pháp về cái thân thể bất tịnh. Làm như vậy là đã xét đoán một cách nông nỗi, máy móc! Đừng khinh trong núi đất dơ không có ngọc, chớ cho trong bể nước mặn không có vàng. Chớ nên tưởng rằng trong thân thể bất tịnh nầy không có Phật tánh, mà đi tìm Phật tánh ở đâu xa. Đức Phật thường dạy: “Mỗi chúng sinh đều có Phật tánh”. Trong kinh Lăng Nghiêm, ngài lại phát minh Phật tánh “bất sanh diệt” trong cái sinh diệt. Phật tánh hay tánh bất sinh diệt là căn bản tinh thần của ta đó. Nó thì vô hình nhưng không mất, lẫn lộn trong “bất tịnh” mà thường vẫn thanh tịnh.

Biết lợi dụng cái thân bất tịnh, vô thường nầy mà tìm ra cái “tịnh” cái “thương”, ấy là bổn ý của Đức Phật khi dạy pháp quán tưởng nầy vậy.

Chơn tâm con người vẫn là thanh tịnh, nó nằm sẵn trong thân bất tịnh của mỗi chúng sinh. Nhưng vì người đời bị phiền não tham, sân, si lôi cuốn, phỉnh gạt nên say mê quay cuồng đeo đuổi theo ngũ trần, lục dục, mà không thấy được bản tâm thanh tịnh.

Muốn chận đứng sự tham đắm quay cuồng ấy, Đức Phật dạy phải quán bất tịnh. Vậy quán bất tịnh có mục đích:

– Đối trị lòng tham dục, chứ không phải để chán đời, tự hủy diệt thân mình.

– Dứt trừ vọng niệm và giác ngộ Phật tánh, để tiến mạnh trên đường giải thoát cho mình và cho người.

Nhưng, vàng không tự nhiên nằm sẵn trong tủ, ngọc chẳng phải nằm khơi trên đất. Phật tánh cũng vậy: Nó không tự biến cho ta khi ta an nhiên ngồi đợi. Vậy kẻ tu hành muốn thành tựu phép quán nầy để giác ngộ Phật tánh, cần phải gia công tu luyện, và nhất là phải trau dồi ba đức tánh sau đây:

– Sáng suốt (trí huệ): Đừng để cho dục vọng làm mờ mắt, lấy giả làm chân, lấy xấu làm đẹp. Đừng hời hợt nhìn bên ngoài, mà phải sâu sắc nhìn vào bên trong.

– Thành thật: Thấy thơm thì nói thơm, thấy thúi thì nói thúi, đừng tự ái, đừng thiên vị, chỉ một mực tôn thờ sự thật, dù sự thật ấy làm cho ta đau lòng, buồn tủi.

– Kiên nhẫn: Phải bền tâm, trì chí, đừng thấy khó mà ngã lòng, đừng thấy đường dài mà lùi bước. Ở đời không có công việc gì tốt đẹp mà chẳng gặp khó khăn. Một nữa sự thành công là do ở kiên nhẫn. Nếu chúng ta có đủ ba đức tánh nói trên, thì nhất định ta sẽ thành tựu tốt đẹp trong pháp quán bất tịnh nầy.

3. Quán thân bất tịnh để trừ tâm ái dục

Trong thế gian này ai cũng tham sống sợ chết. Sự tham sống của con người vô cùng mãnh liệt, vì nó được tiếp nối từ vô thỉ kiếp cho đến nay. Vì tham sống cho nên chúng ta tìm đủ hết mọi cách để được sống. Vì tham sống cho nên con người ta bất chấp hết mọi thủ đoạn đê hèn, dã man và tàn nhẫn nhất để duy trì mạng sống cho chính mình. Tóm lại, tham sống sợ chết là không của riêng ai kể cả các loài vật khác. Con người, càng tham sống bao nhiêu lại càng sợ chết bấy nhiêu. Mà đã sợ thì không dám dùng từ chết, cho nên dùng từ mất, qua đời hoặc vãng sinh.

“Bất tịnh” nghĩa là không sạch sẽ, trong lành. Quán bất tịnh tức là quán sát một cách tỉ mỉ, cùng tột thân con người để nhận thấy biết rõ ràng nó là không trong sạch. Đối với tất cả mọi người thì “quán thây ma” như thế chưa phải là phương thuốc mầu nhiệm, để chúng ta nhàm chán cái thể xác của mình và của người khác. Muốn nhàm chán, ghê tởm cái thể xác nhơ nhớp này thì ta phải thấy tận mắt cái “bất tịnh” của nó, từ khi nó bắt đầu thành hình cho đến khi nó bị hủy hoại.

Quán chủng tử bất tịnh

Chủng tử là hạt giống, là yếu tố hay nguyên nhân để phát sinh ra thân này. Hạt giống của thân này gồm có hai phần: Phần tinh thần và phần vật chất.

Phần tinh thần hay còn gọi là thần thức. Nó là chủ nhân ông của bao điều họa phúc trong hiện tại và mai sau. Thần thức này, hoà hiệp cùng tinh cha huyết mẹ để có một đời sống kế tiếp sau khi chết. Trong khi quán, hành giả phải vận dụng, tập trung ý lực mạnh mẽ để tưởng tượng một cách rõ ràng, như thấy trước tất cả hạt giống bất tịnh, để mà nhàm chán thân người, dẹp lòng tham đắm luyến ái xác thân này.

Quán bào thai bất tịnh trong bụng mẹ

Cái bào thai, không nói, ai cũng biết là một cái bọc chứa đầy máu nhớt hôi tanh, dơ bẩn. Cái bào thai nằm lẫn lộn và lớn dần trong cái bọc bé nhỏ dơ bẩn ấy, giống như trong lỗ cầu xí vậy. Nhưng trong chỗ ấy, dù sao cũng còn có khoảng trống để xê dịch, còn có cửa thông hơi để ánh sáng và không khí lọt vào.

Chứ trong bào thai thì cái thai phải nằm co rút lại, đẫm mình trong những chất nước, máu và nhớt vô cùng tanh hôi và không có được một chút không khí hay ánh sáng mặt trời lọt vào. Cái thai phải sống trong hoàn cảnh ấy không phải chỉ một ngày, một tuần hay một tháng mà phải đến chín tháng mười ngày mới thoát ra được.

Vậy quán cái bào thai bất tịnh có nghĩa là vận dụng toàn lực ý niệm để nhận chân một cách rõ ràng như thấy trước mắt cái dơ bẩn, cái bất tịnh của bào thai là chỗ ở nhơ nhớp, hầu dẹp lòng rạo rực ham muốn tham đắm sắc thân người.

Quán hình tướng bất tịnh

Sau khi đứa bé chào đời, có đầy đủ giác quan để tiếp xúc với ngoại cảnh, có đủ bộ phận cần thiết để điều hòa cuộc sống thể xác của mình. Những giác quan bên ngoài và bộ phận bên trong ấy, thường bài tiết ra những chất dơ bẩn, hôi hám; do đó, ta biết rằng cái thân này không trong sạch.

Ngoài ra còn chín chỗ tiết ra các chất không trong sạch như đường đại thảy phân ra hôi thối, đường tiểu khai hôi, còn miệng nếu không súc rửa sẽ hôi dơ, hai lỗ tai tiết ra chất gọi là “cức rái”, hai lỗ mũi tiết ra chất gọi là “cức mũi” và hai con mắt tiết ra ghèn.

Chín lỗ này chẳng khác gì chín “cái cống”, lớn có, nhỏ có để chứa những thứ nhơ nhớp. Khi thân xác này còn mạnh khỏe, ta có thể làm vệ sinh sạch sẽ, nhưng đến lúc bệnh hoạn già nua ta không còn làm chủ được nữa, thì những lỗ ấy tự động xuất ra, các thứ dơ bẩn ấy.

Do đó, mỗi hành giả muốn thành công và nhàm chán cái thân này, chúng ta phải thường xuyên quán tưởng để thấy sự nhơ bẩn của nó mà ta sinh nhàm chán, nhờ vậy mà ta không tham đắm luyến ái thân này.

Quán tự thể bất tịnh

Vậy quán tự thể bất tịnh là quán sát cái thể chất của thân người, để nhận thấy rõ sự bất tịnh của nó như thế nào.

Về chất cứng như xương, tóc, lông, móng tay. Chất lỏng như máu, nước miếng, nước mắt. Chất sệt như mỡ, óc, tủy. Trong các chất ấy, dù cứng, hay lỏng cũng chẳng có thứ nào là trong sạch cả. Về chất cứng, như tóc của chúng ta nằm trên đầu, ai cũng quý nó hết. Nhưng nếu ta không tắm rửa gội đầu thường xuyên hoặc chải chuốt chăm sóc hằng ngày thì lâu ngày nó trở nên hôi dơ bẩn thỉu, không một ai dám đứng gần. Tóc là thứ ở nơi cao quý của con người mà còn bất tịnh như vậy, thì những thứ khác như ruột, gan, phèo phổi lại còn bất tịnh biết chừng nào?

Về chất lỏng, thì nước miếng là sạch nhất, vì nó được ở trong miệng là nơi hằng ngày được lau chùi súc rửa nhiều nhất. Thế mà lúc ra khỏi miệng, dù là của kẻ khác hay của chính mình, rủi bị dính vào mặt, vào áo, thì ta liền có thái độ và những cử chỉ tỏ rõ sự nhờm gớm ngay.

Về chất sệt, thì não là phần quan trọng và được ở trong đầu óc là nơi cao quý nhất. Nhưng thử tưởng tượng, khi chúng ta đi xe hơi chẳng hạn, rủi bị tai nạn, người ngồi bên cạnh ta bị bể đầu, não trắng như đậu hũ tung tóe vào mặt mày chúng ta, thì chắc chắn những người thiếu bình tĩnh sẽ chết giấc vì ghê tởm.

Quán bất tịnh sau khi chết

Đây là thời kỳ chung cuộc của mấy mươi năm sinh tồn của thân này. Phật dạy: Thân người do bốn chất đất, nước, gió, lửa giả hợp lại mà thành, đến khi chết, xác con người phải trả về cho tứ đại. Trước hết, là hơi thở về với phong đại. Kế là hơi ấm trở về với hỏa đại. Tiếp theo là chất lỏng trong người trả về với thủy đại và cuối cùng chất cứng như thịt xương cũng trở về địa đại.

Nói một cách tổng quát từ kẻ sang đến người hèn, từ kẻ giàu đến người nghèo, từ kẻ già đến người trẻ, từ kẻ đẹp đến người xấu, ai ai đến giai đoạn chung cuộc này, cũng chỉ với một xác chết sình thối. Nói tóm lại, mỗi hành giả phải quán sát qua năm giai đoạn bất tịnh: Nhờ vậy chúng ta thấy rõ bản chất của thân này là bất tịnh nhơ nhớp mà không tham đắm dính mắc thân này là ta và của ta, do đó thành tựu được thân vô ngã. Ta quán thân này bất tịnh để mỗi hành giả không bị tham đắm dính mắc vào xác thân hư giả này không thật thể, nhờ vậy ta phá được ngã chấp. Chấp thân này là mình thiệt.

Sau khi thành tựu pháp quán bất tịnh, hành giả cảm thấy nhờm gớm thân này, nên nảy sinh ra tư tưởng chán chường không muốn giữ thân này lâu dài nữa. Một số thầy Tỳ kheo sau khi quán pháp bất tịnh thành công nên mướn người giết. Phật giáo hóa ở cõi trời về, thấy vắng một số thầy Tỳ kheo nên mới hỏi ngài A Nan vì sao lại thế. A Nan kể lại sự việc như thế, Phật bảo ta dạy pháp quán bất tịnh để quý thầy không luyến ái dính mắc vào sắc thân mà dễ dàng buông xả. Sau khi thành tựu pháp bất tịnh, quý thầy phải quán tịnh trở lại để nhận ra thể tính thanh tịnh sáng suốt, nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, tai mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế mà thành tựu Phật đạo.

Ái có nghĩa là luyến mến yêu thương thuộc về tình cảm, dục là ham muốn thuộc về thể xác. Ái bao gồm đủ loại tình cảm: yêu, thương, nhớ, mến, ưa, ghét, giận, hờn, buồn, lo…

Dục gồm có ngũ dục hay lục dục. Ngũ dục là năm thứ ham muốn của mọi người: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ kỹ… Lục dục là sự ham muốn của sáu căn đối với sáu trần: mắt thích nhìn sắc đẹp, tai thích nghe âm thanh dễ chịu, mũi thích ngửi mùi thơm, lưỡi thích nếm món ngon vật lạ, thân thích xúc chạm da thịt êm ái, ý thích nghĩ tới cái gì thỏa mãn sự thèm khát và mong muốn của mình. Phần đông đa số người phụ nữ đều thích tình cảm luyến ái, đàn ông thì mong muốn ham thích một cách mạnh mẽ. Một bên cần tình ái, một bên cần tình dục, hai bên hợp lại nhau thì say mê chìm đắm trong hoan lạc.

Nhiều người tu theo đạo Phật, muốn giác ngộ giải thoát, để chấm dứt phiền muộn khổ đau nhưng lại không chịu từ bỏ tình cảm luyến ái dục vọng. Đây là điều hết sức mâu thuẫn, một mặt thì ta tạo thêm tình cảm luyến ái, một mặt thì ta lại muốn chấm dứt khổ đau.

Tại sao chúng ta cần phải từ bỏ ái dục? Vì ái dục là nguyên nhân dẫn chúng ta luân hồi mãi trong vòng sinh tử khổ đau.

Người Phật tử tại gia muốn từ bỏ ái dục thì phải làm sao? Chỉ cần giữ giới chung thủy một vợ một chồng với nhau và biết tiết chế trong sinh hoạt tình dục là tốt lắm rồi. Từ đó, cả hai vợ chồng cùng học đạo, hiểu đạo và trở thành bạn đạo, khuyến khích nhau tu hành để được giải thoát sinh tử, khổ đau, giống như hai vợ chồng ngài Ma Ha Ca Diếp khi xưa, lấy nhau mà không ân ái cuối cùng hai người cùng phát tâm xuất gia tu hành và chứng quả A-la-hán.

Ngoài ra, chúng ta có thể quán thêm về sự tai hại của sắc dục như liếm mật ngọt trên lưỡi dao bén, như khát uống nước muối, như chó gặm xương khô.

Có người dùng dao nhúng vào lọ mật để lấy ra phết vào bánh mì, phết xong trên con dao còn dính lại chút mật, xong rồi thè lưỡi ra liếm chỗ mật còn sót lại đó. Mật tuy ngon ngọt nhưng vừa liếm xong là đứt lưỡi. Vị ngọt hưởng chưa tới một giây mà bị đau đứt lưỡi.

Như người đi trên biển, khát nước bèn múc nước biển mà uống, càng uống càng khát lại càng khô khốc cổ họng có khi chết khát vì mặn. Có người vứt cho con chó một khúc xương khô, không còn dính chút thịt nào, nhưng con chó không biết, cố gặm tới gặm lui, rách răng chảy máu, rồi nó tưởng máu đó từ miếng xương khô mà ra nên ráng gặm nữa, càng gặm càng đói, càng thèm, càng chảy máu răng.

Sắc dục cũng lại như thế, không bao giờ làm cho ta thỏa mãn, càng ân ái thì lòng dục càng tăng trưởng, càng thích thú, càng thèm khát tìm kiếm và cuối cùng không làm chủ được bản thân mà dính vào tội tà dâm, hoặc hiếp dâm. Hậu quả hiện đời là gia đình tan nát, hoặc bị tù tội, giam cầm khổ sở. Và trong đời sau có thể bị lạc đọa vào các loài súc sinh như chim sẻ, chim bồ câu chẳng hạn để thỏa mãn thú tính.

Tâm Hướng Phật/TH!

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

BÀI VIẾT LIÊN QUAN